Một doanh nghiệp rút đề xuất nạo vét tận thu hơn 1 triệu m³ cát
Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị vừa xin rút hồ sơ đề nghị UBND tỉnh Quảng Trị xem xét nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4, tận thu hơn 1 triệu m³ cát trong 5 năm. Hồ sơ này từng đi qua nhiều khâu tham mưu, được mở đường bằng các văn bản hành chính, nay bất ngờ dừng lại. Vì sao một đề xuất tận thu khoáng sản quy mô lớn phải rút? Và từ diễn biến này, những bất cập nào trong quy trình hình thành, thẩm định và xử lý hồ sơ đã bộc lộ?
Hồ sơ hơn 1 triệu m³ cát đi qua những bước nào?
Ngày 21/4/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cho biết, Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị đã rút toàn bộ hồ sơ đề xuất nạo vét tại Thủy điện Đakrông 4 từ đầu tháng 4/2026.
Để làm rõ diễn biến sự việc, PV Báo CAND đã tìm hiểu thêm và xâu chuỗi lại quá trình hình thành và xử lý hồ sơ này.
Trước đó, ngày 6/6/2025, Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị có Tờ trình số 54/2025/TTr-SHTĐ, đề xuất phương án bảo trì, nâng cấp hồ chứa Thủy điện Đakrông 4 theo hướng nạo vét bồi lắng, tận thu sản phẩm theo cơ chế lấy thu bù chi trong thời gian 5 năm, với tổng khối lượng hơn 1,033 triệu m³ cát. Ngày 28/7/2025, Sở Công Thương ban hành Công văn số 200/SCT-KTATMT, hướng dẫn các nội dung liên quan đến vận hành hồ chứa và các vấn đề kỹ thuật.
Tiếp đó, ngày 1/8/2025, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành Công văn số 320/UBND-NNMT, cho phép doanh nghiệp lập phương án nạo vét, đồng thời hướng dẫn hoàn thiện thủ tục cấp Giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản theo quy định. Đến ngày 6/3/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị có Tờ trình số 244/TTr-SNNMT, đề nghị UBND tỉnh xem xét xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản trong phạm vi kế hoạch nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4. Theo tờ trình này, diện tích khu vực thu hồi khoảng 32,6ha, chia thành 5 khu vực; tổng khối lượng và thời gian thực hiện trùng với đề xuất của doanh nghiệp.
Ngày 23/3/2026, Báo CAND đăng bài “Hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Nạo vét hay khai thác trá hình?”, phản ánh những dấu hiệu bất thường của đề xuất này. Đáng chú ý, trước đó, ngày 18/3/2026, UBND tỉnh Quảng Trị đã có văn bản yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan rà soát toàn diện cơ sở pháp lý các dự án nạo vét theo hình thức xã hội hóa trên địa bàn. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, các bước xử lý hồ sơ vẫn tiếp tục được triển khai.
Ngày 25/3/2026, Báo CAND đăng tiếp bài “Viết tiếp bài nạo vét, tận thu hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Cát từ đâu và dựa trên căn cứ nào để nạo vét?”. Cùng ngày, sau khi Báo phản ánh, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hoàng Nam, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan rà soát lại sự cần thiết, quy mô và quy trình thực hiện phương án nạo vét, báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định.
Ở một diễn biến khác, trước phản ánh của Báo, ngày 24/3/2026, Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị có văn bản gửi UBND tỉnh Quảng Trị, đề nghị rút hồ sơ để điều chỉnh phương án thu hồi khoáng sản. Theo đó, khối lượng đề xuất được điều chỉnh từ hơn 1,03 triệu m³ trong 5 năm xuống còn 206.672 m³ trong thời gian 1 năm.
Những “khoảng mở” trong xử lý hồ sơ
Diễn biến điều chỉnh khối lượng rồi đi đến rút toàn bộ hồ sơ đề xuất nạo vét tại Thủy điện Đakrông 4 cho thấy rõ sự thay đổi trong quá trình xử lý hồ sơ khi các vấn đề cốt lõi được đặt ra. Trước đó, từ Tờ trình số 54/2025/TTr-SHTĐ ngày 6/6/2025 của Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị đến Tờ trình số 244/TTr-SNNMT ngày 6/3/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường, phương án nạo vét với khối lượng hơn 1,03 triệu m³ cát trong 5 năm đã được đưa vào quy trình xem xét theo hướng xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản.
Tuy nhiên, như Báo CAND đã nêu trong loạt bài phản ánh, nhiều nội dung nền tảng của hồ sơ chưa được làm rõ. Cụ thể, trong bài “Viết tiếp bài nạo vét, tận thu hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Cát từ đâu và dựa trên căn cứ nào để nạo vét?”, Báo CAND chỉ ra rằng đề xuất với khối lượng lớn “có dấu hiệu chưa phù hợp quy định pháp luật và không xuất phát từ mục đích cốt lõi là vệ sinh lòng hồ”, đồng thời các căn cứ kỹ thuật quan trọng, trong đó có Báo cáo đánh giá tác động môi trường, không được viện dẫn đầy đủ trong hồ sơ.
Những vấn đề này tiếp tục được làm rõ trong bài viết “Diễn tiến mới nhất liên quan đề xuất nạo vét, tận thu hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ”, khi Báo CAND nhấn mạnh các yếu tố cốt lõi như mức độ bồi lắng thực tế, nhu cầu nạo vét và căn cứ kỹ thuật đi kèm vẫn chưa được xác định đầy đủ, trong khi hồ sơ lại được xử lý theo hướng hoàn thiện thủ tục hành chính.
Trong bối cảnh đó, việc doanh nghiệp có văn bản ngày 24/3/2026 điều chỉnh phương án, giảm khối lượng từ hơn 1,03 triệu m³ xuống còn 206.672 m³, rồi tiếp tục rút toàn bộ hồ sơ vào ngày 20/4/2026, cho thấy phương án ban đầu không còn được giữ nguyên khi phải làm rõ các căn cứ liên quan.
Việc giảm khối lượng ở mức lớn trong thời gian ngắn cũng là nội dung đã được Báo CAND đặt vấn đề, khi cho rằng sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là điều chỉnh kỹ thuật mà liên quan trực tiếp đến cơ sở xác lập con số ban đầu.
Từ các nội dung đã được phản ánh, có thể thấy trách nhiệm không dừng lại ở phía doanh nghiệp. Trong quá trình tham mưu, các văn bản của cơ quan chức năng đã từng bước đưa hồ sơ vào quy trình xem xét theo hướng xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản, trong khi những nội dung về căn cứ kỹ thuật, mức độ bồi lắng và phạm vi nạo vét chưa được làm rõ tương xứng.
Việc hồ sơ có thể đi qua nhiều khâu xử lý trong điều kiện như vậy cho thấy yêu cầu cần xem xét lại toàn bộ quy trình tham mưu, thẩm định và phối hợp giữa các cơ quan liên quan, đặc biệt là cán bộ, lãnh đạo phụ trách trực tiếp Phòng Khoảng sản và Biến đổi khí hậu, Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị.
Qua trao đổi, lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, sau khi Báo CAND đăng tải 3 bài điều tra phản ánh sự việc, ngày 9/4/2026, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1356/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn. Thời điểm ban hành quy chế này diễn ra sau khi các nội dung liên quan đến đề xuất nạo vét tại Thủy điện Đakrông 4 được rà soát và hồ sơ được doanh nghiệp rút.
Quy chế xác định Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối tham mưu, tổng hợp, theo dõi. Đồng thời, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan được phân công theo từng khâu, từ quy hoạch, thẩm định, cấp phép, quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác đến kiểm soát vận chuyển, bến bãi, nguồn gốc vật liệu, thực hiện nghĩa vụ tài chính, thanh tra và bảo đảm an ninh trật tự.
Theo nhiều người dân địa phương, nếu không có sự phát hiện và phản ánh kịp thời của Báo CAND, phương án nạo vét với quy mô lớn có thể tiếp tục được hoàn thiện theo trình tự thủ tục. Khi đó, như chính các bài báo đã cảnh báo, ranh giới giữa hoạt động bảo trì công trình và khai thác khoáng sản sẽ trở nên khó phân định, kéo theo nguy cơ phát sinh những hệ lụy trong quản lý tài nguyên và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Nếu nhìn ở góc độ quy trình, vấn đề nằm ở những khoảng mở trong công tác tham mưu, thẩm định và phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Nhưng nếu nhìn ở góc độ kinh tế, câu chuyện lại mở ra một chiều khác. Một giám đốc doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn Quảng Trị cho biết, với mặt bằng giá hiện nay, mỗi mét khối cát khi đưa ra bãi có thể bán khoảng 240.000 đồng; sau khi trừ chi phí khai thác, vận chuyển, nhân công, lợi nhuận ròng vẫn có thể đạt không dưới 120.000 đồng/m³. Với khối lượng hơn 1 triệu m³ như phương án ban đầu, số tiền chênh lệch có thể lên tới hàng trăm tỷ đồng.
Những con số này cho thấy, đằng sau một đề xuất mang danh “nạo vét, tận thu” không chỉ là bài toán kỹ thuật của lòng hồ, mà còn là bài toán lợi ích kinh tế rất lớn gắn với tài nguyên công. Khi giá trị ấy được đặt trong một quy trình mà các căn cứ kỹ thuật, mức độ bồi lắng và sự cần thiết chưa được làm rõ tương xứng, thì bất kỳ khoảng trống nào trong quản lý cũng có thể trở thành kẽ hở.
Việc hồ sơ buộc phải rút sau khi các vấn đề cốt lõi được đặt ra không chỉ là một diễn biến riêng lẻ. Đó là một cảnh báo rõ ràng rằng, với những đề xuất liên quan đến tài nguyên, nhất là khi đi kèm giá trị kinh tế lớn, mọi khâu từ hình thành chủ trương, tham mưu đến thẩm định đều phải được kiểm soát chặt chẽ, minh bạch và dựa trên căn cứ khoa học. Bởi nếu không, cái giá phải trả sẽ không chỉ nằm ở những con số, mà còn ở niềm tin đối với công tác quản lý tài nguyên công.