Phải sống là sự trả giá phũ phàng nhất
Một cách gượng ép, Khuyên kể lại cái ngày chị ta đã nhấc cả 3 đứa con trứng gà trứng vịt (may mà một đứa chạy thoát) ném tất xuống giếng. Ngày ấy, Khuyên bảo "đầu óc tôi có vấn đề", nhưng càng ở trại, được chữa trị, căn bệnh liên quan đến cái đầu của chị ta được đẩy lùi, Khuyên lại nhớ rõ hơn, nhớ mồn một, nhớ tất cả những gì đã làm vào một ngày tháng 4 cách đây 8 năm. Đó là điều ông trời bắt thị phải trả giá, phải tỉnh táo, phải mở mắt sống để cảm nhận tội lỗi day dứt từng ngày. Thế nên, giá như cả đời này, thị cứ điên điên, dở dở...
Sống khổ quá nên phải chết?
Khuyên mang một gương mặt cô hồn, nghĩa là đôi mắt của thị cứ trắng dã, tròng trọc, vô cảm. Tấm thân thẳng đuột, thị dật dờ bước theo nữ quản giáo có gương mặt hiền lành, nước da rám nắng. Vừa nhìn thấy tôi, thấy sổ, thấy máy ảnh, Khuyên đã nguây nguẩy chép miệng: "Lại nhà báo, tôi đã bảo tôi không thích gặp nhà báo rồi cơ mà". Tôi ngạc nhiên trước phản ứng của chị ta và trước cả sự kiên nhẫn, dịu dàng của nữ quản giáo đang cố gắng thuyết phục. Tôi bảo với thị: "Tôi chỉ muốn hỏi thăm sức khỏe, tình hình chị cải tạo thế nào, chị không thích gặp tôi thì thôi". Khi ấy, Khuyên mới ngồi xuống ghế, nhưng mặt thì cứ ngoảnh ra cửa, ra chuyện "không tiếp".
Hình như đầu óc người đàn bà này có "vấn đề" thật. Tôi thử "check" bằng vài câu hỏi nữa và cố tình vòng vo, không đi vào câu chuyện khiến Khuyên càng có vẻ "điên tiết". Dường như chịu không nổi, thị quay ngoắt lại: "Nhà báo hỏi cái gì thì hỏi đi để tôi còn về làm việc". "Tôi chẳng hỏi gì đâu, chỉ muốn xem chị còn xinh như ngày xưa không thôi" - tôi cố tình nói thế để thị bộc lộ dần. Khuyên lại chép miệng cái "tẹp", như một phản xạ cố hữu trước những tình huống khó. Chẳng ngờ, sau câu ấy, Khuyên bắt đầu cởi mở hơn. Khuyên kể, chị ta lấy chồng năm 1992, người đàn ông này như ăn phải bả của Khuyên.
![]() |
|
Trung tá Lều Quang Hòa, Đội trưởng Đội Trinh sát hỏi thăm tình hình cải tạo của Khuyên. |
Hằng ngày, anh đạp xe đi khắp nơi làm thuê cho người ta, và cứ theo lời Khuyên thì "anh Thức tốt lắm" (chồng Khuyên tên là Đỗ Văn Thức). Trong vòng 10 năm, từ 1992 đến 2002, Khuyên đẻ liền tù tì 4 đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất sinh năm 1993, đứa bé nhất sinh năm 2002. 10 năm với 4 đứa con, có khác nào chỉ ăn và... đẻ, còn làm lụng được gì.
Một đồng nghiệp của tôi đã từng về nhà Khuyên, cách đây 8 năm, khi vụ án mới xảy ra, có kể lại với tôi rằng, nhà thị thuộc loại nghèo nhất nhì xã Sơn Cương, huyện Thanh Ba. Nhà Khuyên nằm trên một quả đồi nhưng không có vườn tược như những nhà khác mà chỉ có cỏ dại mọc lút đầu. Căn nhà 3 gian lợp lá cọ, nền đất, vào trong nhà, ngước lên có thể thấy những cái lỗ thông với bầu trời, đút lọt bàn tay. Nhìn mãi trong nhà cũng không có gì đáng giá nổi trăm ngàn đồng.
Và hình ảnh 3 đứa trẻ (từ 1 đến 6 tuổi) được vớt lên từ dưới giếng, người ta đặt chúng nằm cạnh nhau trên chiếc chõng tre ngoài sân để khâm liệm, có lẽ là hình ảnh mà nhiều năm sau nữa trong cuộc đời làm báo của mình, bạn tôi cũng không bao giờ quên được. Ngồi cạnh chúng là người đàn ông khắc khổ, mặt ngây dại trước nỗi đau đớn khủng khiếp. Vợ anh - thủ phạm giết các con anh vừa bị Công an bắt đi, người dân kéo đến chật đường làng ngõ xóm thăm hỏi. Đứa con lớn của anh mếu máo nói với bố: "May mà con chạy thoát".
Khuyên chẳng được lòng nhà chồng. Thị thường xuyên bị mẹ chồng đay nghiến, gia cảnh lại nghèo khó khiến Khuyên chẳng thiết sống. Ý định tự tử đến rất nhiều lần trong đầu. Người dân quanh đó kể lại, rất nhiều lần người ta nhìn thấy Khuyên tay bồng, tay dắt con, miệng lầm bầm: "Sống khổ thế này thì sống làm gì, chết quách đi còn hơn". Ba đứa con khóc khóc mếu mếu, mũi dãi tèm lem càng khiến Khuyên điên tiết.
Chiều chập choạng ngày 25/4/2003, Khuyên định sẽ bế cậu con trai mới chập chững biết đi nhảy xuống giếng tự tử thì chợt thấy đứa thứ hai và đứa thứ ba đang mò mẫm chơi quanh đó. Một ý nghĩ đến rất nhanh như ma xui quỷ khiến, thị bế thốc ba đứa con ném xuống giếng và nhảy xuống sau cùng.
Đúng giây phút ấy thì anh Thức về, nghe thấy tiếng đứa con gái lớn kêu cứu, anh vội vàng cùng hàng xóm cứu mấy mẹ con, nhưng chỉ có Khuyên sống sót, còn ba đứa trẻ đã vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời này khi chưa kịp hiểu vì sao mẹ chúng lại đối xử với chúng oan nghiệt đến vậy. Hình như, ông trời không cho Khuyên được chết cùng các con một cách dễ dàng mà bắt chị ta phải sống để trả nợ tội lỗi.
Khuyên bảo, mình bị "bệnh" từ khi sinh đứa con thứ ba. Áp lực ngày càng đè nặng, vì nghèo khó, vì không gây được thiện cảm với gia đình chồng, vì cả những nỗi niềm riêng "sống để dạ, chết mang theo" mà theo Khuyên thì kể cả khi đã xuống mồ, thị quyết sẽ không nói với ai. Khuyên bảo, chị ta cũng như những người mẹ khác, đều rất thương con: "Tôi mà chết thì chúng sống còn khổ hơn, nên thà đem chúng theo cho chúng đỡ khổ" - cái lý của người đàn bà cạn nghĩ thật đáng sợ. Hai tay thị cứ vò mãi vào nhau, những ngón tay xương xẩu, thô ráp như của thần chết vặn vẹo, chốc lại vang lên những tiếng lục cục, và gương mặt cứ gục xuống ít khi nào thấy ngẩng lên.
Càng muốn quên lại càng nhớ!
Với những người hàng xóm ở khu 8 xã Sơn Cương, thì Khuyên gần giống một người đàn bà "tâm thần", thị chả buồn làm gì, cứ chơi suốt ngày mặc cho vườn tược cỏ hoang mọc lút đầu. Có lần, anh Thức bảo vợ ra đồng làm cỏ, Khuyên vác cuốc ra đồng nhưng chỉ đứng ngắm trời ngắm đất chán rồi lại vác cuốc về. Có những đêm, Khuyên dật dờ đi lại trong nhà như một bóng ma, thị lầm rầm những câu gì không rõ.
Tâm tính của chị ta càng lúc càng khiến cho người chồng mệt mỏi, đau khổ. Cho đến khi vụ án xảy ra thì người ta đã lý giải, sự dã man của thị có lẽ một phần là do căn bệnh trầm cảm sau sinh mà nhiều người phụ nữ mắc phải, do áp lực cuộc sống nặng nề. Chính Khuyên cũng thừa nhận: "Con cái nheo nhóc, ăn uống bữa đói bữa no, người ta lại dè bỉu, tôi không xứng đáng với anh Thức, là cái nợ của chồng mình". Và Khuyên đã tiêu cực chọn cái chết để cho "người ta" thấy, thị chả hơi đâu mà thiết tha với cuộc sống này. Tôi gặng hỏi, "người ta" là ai, Khuyên nhất định không nói, thậm chí thị phát cáu: "Tôi đã nói là có những chuyện xuống dưới mồ tôi cũng không nói".
Khuyên bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ kết án chung thân, nhưng phải đến năm 2006, thị mới nhập trại Xuân Nguyên, là vì phải đi chữa bệnh trầm cảm. Ngày ấy, những cơn đau đầu hành hạ thị triền miên, nhưng khi ấy, Khuyên chưa ý thức được tội lỗi của mình sẽ có lúc khiến thị day dứt đến tan nát tâm can như bây giờ. Giờ đây, khi căn bệnh của Khuyên đã được chữa trị, thì cái buổi chiều nhập nhoạng định mệnh ấy không có ngày nào là không xuất hiện trong suy nghĩ của Khuyên ít nhất một lần.
Nhiều đêm, thị nằm mê thấy những đứa trẻ cứ đứng nhìn mẹ mà không nói một lời nào, sáng ra, Khuyên lại khóc thút thít vì sợ hãi, vì ân hận. Những bạn tù cùng buồng biết "bệnh" của Khuyên, họ rất thương và thường cho quà khi có người nhà lên thăm, bởi từ ngày nhập trại, Khuyên chẳng có anh em, bà con nào tới. Gần 5 năm ở Trại giam Xuân Nguyên rồi nhưng Khuyên cũng chẳng có một người bạn tù nào được coi là thân thiết, chị ta sống gần như câm lặng, ít nói chuyện, không tranh giành, bon chen với ai và những người xung quanh lâu dần cũng quen với tính cách ấy.
Có lẽ tại Khuyên không thể nào dứt ra được suy nghĩ mặc cảm, vì suy cho cùng, chị ta không phải hạng lưu manh chuyên nghiệp, mà chỉ là một người đàn bà nông thôn cạn nghĩ, lại bị bệnh tật hành hạ. Hồi mới bị bắt, được Công an tỉnh Phú Thọ cho đi chữa trị bệnh, chỉ có duy nhất người mẹ già héo hon của Khuyên tới chăm sóc chị ta, còn bé Mai - con bé lớn duy nhất chạy thoát trước sự điên cuồng của người mẹ trong buổi chiều khủng khiếp đó chưa một lần nào được bố nó đưa tới thăm mẹ.
Dù vẫn nói "cứng" với tôi rằng: "Mọi chuyện dù có ân hận cũng muộn rồi, giờ đây tôi chỉ còn biết lao động, hoàn thành đủ định mức mà trại giao cho", nhưng sao những lời nói của Khuyên khi nhắc tới chồng con vẫn nghèn nghẹn, méo mó. Hỏi mong muốn lớn nhất bây giờ của Khuyên là gì, chị ta gục gặc cái đầu, mãi mới thốt ra được: "Tôi mong được một lần mẹ và con gái lên thăm".
|
Chiều 25/4/2003, Nguyễn Thị Khuyên đã ôm đứa con nhỏ (hơn 1 tuổi) định nhảy xuống giếng tự tử thì nhìn thấy 2 đứa con khác (một đứa 3 tuổi, một đứa 6 tuổi) đang chơi gần đó. Khuyên liền bế cả ba đứa con ném xuống giếng còn mình nhảy xuống sau cùng. Khuyên được cứu sống, còn 3 đứa trẻ đã tử vong. Khuyên bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tuyên phạt án chung thân. Lý giải cho hành động của mình, Khuyên cho rằng vì áp lực cuộc sống, nghèo đói, nhiều con lại suốt ngày nghe nhà chồng dè bỉu, phần khác là do căn bệnh trầm cảm sau sinh đã khiến chị ta có hành động rồ dại. Nhìn dáng chị ta dật dờ trong bộ quần áo kẻ sọc, đi theo người nữ quản giáo hiền lành, đầu chúi xuống khiến chiếc bóng cứ xiên xiên nhấp nhổm như bóng ma, tôi lại hình dung ra buổi chiều cách đây 8 năm, có một người cha ngồi rũ gục bên xác những đứa con, hốc mắt khô khốc như khe đá nhiều năm hạn hán. Nghèo đói không phải là cái tội, nhưng nó là nguyên nhân chính khiến người đàn bà ấy đang tâm giết con. Giá như thị cứ tâm thần, cứ quên hết sạch sành sanh ký ức, thì cuộc đời này còn dễ sống, đằng này, thị lại nhớ rõ mồn một buổi chiều đau đớn ấy, thế nên tôi nghĩ, đó là cái giá mà Khuyên phải trả, khi hành động của chị ta đã khiến trời xanh vốn rộng lòng cũng không thể tha thứ. |
