Nhạc Trịnh, một chỉ dấu văn hóa Sài Gòn đô thị

11:09 18/04/2021
Có thể nói, âm nhạc Trịnh là sản phẩm và là hiện thân lớn của kiểu văn hóa đô thị Sài Gòn thập niên 1960-1970, dẫu nó, theo những cách không chủ đích, được bay bổng hoặc ngầm ẩn trong rất nhiều hình ảnh và ca từ lạ lẫm với phần lớn số đông chúng ta ngày nay...

Trước, trong thời điểm Trịnh Công Sơn và Khánh Ly cùng cất tiếng hát tại Quán Văn của Đại học Văn khoa Sài Gòn vào mùa hè năm 1967, chính thức mở đầu cho một hình thức biểu diễn rất gần với cái gọi là “âm nhạc đường phố”, hình thức mà giờ đây đã trở thành khuôn mẫu cho nhiều hoạt động biểu diễn âm nhạc Trịnh của các ca sĩ trẻ, thì không khí và tính chất của văn hóa đô thị Sài Gòn đã phần nào thấm đẫm trong con người ông, đã trở thành chất xúc tác quan trọng định hình nên phong cách, đặc trưng âm nhạc của ông.

Có thể nói, âm nhạc Trịnh là sản phẩm và là hiện thân lớn của kiểu văn hóa đô thị Sài Gòn thập niên 1960-1970, dẫu nó, theo những cách không chủ đích, được bay bổng hoặc ngầm ẩn trong rất nhiều hình ảnh và ca từ lạ lẫm với phần lớn số đông chúng ta ngày nay. 

Hãy lui lại mốc thời gian khác trước đó, tháng 8 năm 1964, khi anh giáo sinh Trịnh Công Sơn, bấy giờ vừa mới tốt nghiệp Trường Sư phạm Quy Nhơn, bắt đầu lên Blao (Bảo Lộc, Lâm Đồng) dạy học. Trong gần ba năm ở nơi chỉ có “tiếng gió hú thật não nề”, “những con đường dốc đất đỏ, mây thì xuống thật gần thật thấp”, nơi “anh ngỡ là mình vừa mang một bản án treo đày về một hoang đảo” ấy, Trịnh không khỏi lâm vào những cơn buồn chán. 

Nhưng bù lại, chàng trai trẻ được tự đắm mình trong thế giới tinh thần của nghe-xem-đọc mà không phải mọi tuổi đôi mươi đều có được, ít nhất ở khía cạnh khơi gợi cho anh những nghĩ suy, cảm nhận về con người, cuộc sống và tình yêu, số phận.

Trong “Thư tình gửi một người” (2011), nếu bỏ qua cách đọc bỗ bã có nguy cơ biến thành suy diễn, thêu dệt tình yêu của Trịnh, chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều cứ liệu, dấu vết mạch ngầm văn hóa nghệ thuật phương Tây đã đến với Trịnh thế nào trước khi chàng thanh niên có dáng thư sinh, gầy gò ấy trở thành nghệ sĩ thời đại. 

Rất nhiều tên tuổi, hoặc là đại diện lớn của trào lưu văn-triết Pháp, hoặc là danh tiếng thời thượng của nhiều thanh niên thành thị miền Nam, đã được Trịnh nhắc đến với không ít niềm say mê.

Dễ hiểu là có Francoise Sagan, dễ hình dung là có André Maurois, Erich Maria Remarque. Dễ nhận ra lí do có mặt của Elvis Presley, Joan Baez và cũng dễ hiểu vì sao những bộ phim như “Summer Place” (1959), “From here to eternity” (1953) được kể lại. 

Nhưng chúng ta hẳn sẽ bớt ngờ vì có cả E. Hemingway, F. Kafka hay Jacques Prévert. Đặc biệt, dĩ nhiên rồi, bộ ba đình đám của chủ nghĩa hiện sinh mà bấy giờ, trong văn chương sách vở, không mấy ai là không muốn một lần thảng thốt: F. Nietzsche, A. Camus và J. P. Sartre. 

Tự làm đầy tuổi trẻ bằng chừng ấy tiếng nói, rõ ràng, sẽ dẫn dắt, gợi mở Trịnh đi về phía nghệ thuật hiện đại, nơi cái mới và tiền phong là một sức hút, nơi những thực hành sáng tạo riêng khác là một vẫy gọi lớn.  

Tôi hiểu rằng đời sống văn hóa văn nghệ miền Nam thập niên 1960 quả thật rất phong phú và có sự đồng hành gần như tức thời với phương Tây, đặc biệt là Pháp - Mỹ, nhưng để có được sự tri nhận ít nhiều những thân danh trong lời kể của Trịnh, cũng cần công phu, đồng cảm, đồng điệu. 

Có thể vì Dao Ánh, lúc đó mới bước vào tuổi thiếu nữ, không hẳn là tuyệt thế giai nhân, nhưng có khuôn mặt tinh khôi, hay như Trịnh nói, “trinh nguyên như bông hoa ly” (“elle est virginale comme un lys”), tự trở thành người-tình-im-lặng để Trịnh giãi bày nhiều suy tư lớn, nhiều đối thoại thường trực về thời cuộc, nhân sinh. 

Hoặc cũng có thể vì chính lựa chọn dịch chuyển không gian của Trịnh, khi núi rừng Blao, khi Đà Lạt hoan náo, lúc Sài Gòn diễm lệ, mà Trịnh đã tự thâu nạp rồi định hình mình như một trí thức, một lãng tử “lưu đày” trong cô đơn, trong sự quan sát tận đáy những biến chuyển của cảm xúc, ưu tư cá nhân. 

Chính Trịnh, qua những câu chữ gửi người tình, đã tự bộc lộ mình như đang sống trong “thế giới lưu đày” (monde exclu), không chỉ cảm thấy bản thân là một “kẻ xa lạ” (étranger) mà còn biến mình trở thành một tồn tại bên lề trên hành trình thâm nhập đời sống văn nghệ ở Đà Lạt, Sài Gòn. 

Cảm thức hiện sinh, có thể nói, đã chi phối Trịnh mạnh mẽ nhất, đồng thời cũng được ông bộc lộ rõ ràng nhất, trong những câu chữ gửi giai nhân, và kế đó, là trong âm nhạc. 

Hàng loạt từ khóa nảy nở từ cảm thức này, cũng là hệ từ vựng rất mực phổ biến trong đời sống tri thức đô thị miền Nam lúc đó, đã xuất hiện thường xuyên dưới ngòi bút của Trịnh: hoang vắng, định mệnh, bên lề, hắt hủi, vực thẳm, đơn độc, vong thân, hư vô, huyệt mộ, vô nghĩa,... 

Một trạng thái tinh thần thiên về bi quan, “buông trôi nhất”, “niềm hư vô như một vết dầu loang trên đời sống”, nhiều viễn mộng nhưng cũng lắm thất vọng ấy, lại đồng thời nuôi dưỡng trong Trịnh mong ước lớn, hi vọng đắm đuối về lẽ sống “yêu thương nhau, yêu chân lý, yêu sự thật, không dối lừa”. 

Bởi vậy, cùng chia sẻ về hư vô hiện sinh (existential nihilism), nhận ra “điều vĩnh cửu chỉ có trong cái chết (“léternité est dans la mort”) nhưng âm nhạc của Trịnh, những lời tự sự, bộc bạch của Trịnh, thật sự, mang sức mạnh hướng thượng, vượt thoát các ràng buộc và trì níu của cuộc hiện hữu bi đát. 

Nhiều ca khúc nổi bật nhất của Trịnh trong thập niên 1960-1970 như “Cát bụi”, “Biết đâu nguồn cội”, “Gọi tên bốn mùa”, “Chờ nhìn quê hương sáng chói”, “Cỏ xót xa đưa”, “Đại bác ru đêm”, “Dựng lại người, dựng lại nhà”, “Đóa hoa vô thường”,... đều có khả năng biểu đạt cho tâm thế của một thời đại và đó mới là lí do khiến nhạc Trịnh nhanh chóng thuộc về số đông công chúng Sài Gòn ngay khi ông vừa nhập cuộc văn nghệ đô thị này.

Chúng ta cũng nhìn thấy nỗi âu lo, hoang mang, “vực thẳm bi đát vừa tráng lệ” mà Trịnh Công Sơn sống trải, thực ra, còn là âm hưởng chủ đạo của văn chương đô thị Sài Gòn bấy giờ. 

Hoàn toàn có thể đặt âm nhạc Trịnh bên cạnh thơ của Thanh Tâm Tuyền, thơ Quách Thoại khi thể hiện nỗi dằn vặt, trăn trở về tuổi trẻ, tình yêu, về thời cuộc nhiều biến động, hoặc bên cạnh thơ Nguyên Sa khi thể hiện cảm xúc yêu đương say đắm thơ mộng. 

Hệ thống hình ảnh trong nhạc Trịnh vừa cụ thể, xác thực vừa siêu thực, phi lí cũng hoàn toàn tương thích với thi ảnh của Thanh Tâm Tuyền khi viết về nỗi bất an, day dứt, hoài nghi trước thực tại: “Sao tuổi trẻ quá buồn/ Như con mắt tuyệt vọng/ Sao tuổi trẻ quá buồn/ Như bàn ghế không bày”. (“Dạ khúc”); “Còn muốn sống như nguồn nước đổ/ Sao em trả lời bằng bệnh viện mắt kín mưa đêm” (“Từ chối”), “Cửa sổ trời những mắt chưa quen/ Trán hoang đồng cỏ/ Run đường môi kỉ niệm/ Đi qua những thành phố đầy tim/ Cười đổ mưa một mình…” (“Của em”). 

Trong quan điểm sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền, thơ có thể không cần nhạc điệu nhưng nhất thiết phải có nhịp điệu, “nhịp điệu của hình ảnh” rồi mới tạo nên “nhịp điệu của ý tưởng”, “nhịp điệu của ý thức”. 

Theo cảm nhận của tôi, âm nhạc và ca từ vốn giàu thi tính của Trịnh Công Sơn cũng là sự vận hành của các lớp nhịp điệu ý tưởng, hình ảnh hơn là lớp nghĩa qui chiếu, cụ thể của nó. 

Ca từ nhạc Trịnh, bản thân nó, là những thi ảnh tự do, liên tưởng, đôi khi phi logic nên thách thức sự diễn giải, cắt nghĩa của người nghe. Nếu thơ Thanh Tâm Tuyền gây chú ý bởi dấu vết của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực thì âm nhạc Trịnh, cùng thời điểm, gây xáo động bởi cùng lúc mang chất liệu hiện sinh, siêu thực và các vấn đề thời cuộc. 

Nói đúng hơn, để là một triết nhân trong âm nhạc như chúng ta sau này không sợ sai khi gọi Trịnh thì “ngay lúc này và ở đây”, nơi “đi Đà Lạt và Sài Gòn rất gần”, Trịnh đã hoàn tất những phân mảnh tâm trí, từ tuyệt vọng đến hi vọng, từ cô độc đến cô đơn, từ mơ mộng đến khổ đau,..., nghĩa là những thang bậc thoạt tiên tưởng giản đơn nhưng thực sự nan giải mà đời người ngại ngần đối mặt. 

Ngày 6 tháng 12 năm 1964, khi viết thư cho Dao Ánh từ Sài Gòn, Trịnh thổ lộ: “Một ngày nào đó anh cũng sẽ trơ ra như một phiến đá mòn rữa. Tình yêu, phiền muộn, đua tranh đang chảy dần trên thân thể anh. Trôi qua trôi qua và biến mất”. Song Trịnh, bằng thái độ tự chịu đựng và đối thoại, đã không để cuộc đời trôi biến như bi kịch của dã tràng.

Nhưng cũng cần nhấn mạnh điểm khác ở Trịnh Công Sơn: ông biểu diễn, truyền đi âm nhạc của mình bằng những phương tiện “bình dân” nhất là đàn guitar và sau đó, là băng cassette. Đó là thứ mà công chúng dễ dàng tiếp cận, trên phương diện tài chính lẫn trình độ thẩm mĩ, hơn nữa, còn phù hợp với lứa khán thính giả ưa chuộng thói quen thụ hưởng văn nghệ thoải mái, tự nhiên. 

Văn chương đô thị Sài Gòn lúc đó, trước sự cạnh  tranh với các phương tiện nghe nhìn mới, có lẽ không thể vượt trội về lượng công chúng. Trong khi nhạc Trịnh, nhờ gần gũi và mức độ phổ cập của băng cassette, sẽ nhanh chóng lan tỏa rộng rãi hơn. 

Yếu tính giải trí ẩn giấu dưới các câu chuyệnn tình yêu, tuổi trẻ và phản kháng xã hội, quả nhiên, cũng cho phép âm nhạc Trịnh chiếm phần ưu thắng trong một đô thị đang rất mức đa dạng các trào lưu sáng tạo nghệ thuật từ tinh hoa đến đại chúng như Sài Gòn giai đoạn 1954-1975.

Mai Anh Tuấn

Chiều 20/2 (tức mùng 4 Tết), người dân từ các tỉnh thành đã dần quay trở lại Thủ đô dù chưa kết thúc kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Tuy nhiên, ghi nhận của PV Báo CAND tại khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô, tình hình giao thông diễn ra thuận lợi, người dân đi lại thông suốt. Lực lượng CSGT cùng với Công an cơ sở ứng trực tại tất cả các điểm nút ra vào thành phố để đảm bảo TTATGT cũng như triển khai thêm thiết bị công nghệ cho hoạt động giám sát, xử lý vi phạm giao thông trên tuyến.

Trong ngày 20/2 (mùng 4 Tết Bính Ngọ), người dân từ các tỉnh đã dần quay trở lại Thủ đô sớm song tình hình giao thông tại Hà Nội và các cửa ngõ được ghi nhận là khá thuận lợi và thông suốt, không xảy ra ùn tắc nghiêm trọng kéo dài như những năm trước.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文