Từ nàng Phan Kim Liên, nghĩ về… viết

15:23 04/04/2021
Tính đến nay, Diêm Liên Khoa, nhà văn xuất sắc của văn chương Trung Quốc đương đại đã có nhiều tác phẩm tiểu thuyết được dịch ở Việt Nam: “Kiên ngạnh như thủy”, “Phong nhã tụng”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn”, “Đinh trang mộng” và “Tứ thư”…

Trong số đó, chiếm dung lượng khiêm tốn nhất – chưa đến 180 trang in của bản tiếng Việt, khổ 13cm x 20,5cm – nhưng lại thể hiện một nghệ thuật tự sự thật đặc biệt, không hề thua sút các tác phẩm bề thế còn lại, là tiểu thuyết “Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn” (Minh Thương dịch, Công ty Tao Đàn & NXB Hội Nhà văn, 2018).

Cái “đặc biệt” đặc biệt nhất, quan trọng nhất, chi phối mọi phương diện thi pháp của tác phẩm, chính là nghệ thuật “viết lại”. “Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn” là viết lại về số phận cuộc đời của mấy nhân vật Phan Kim Liên – Võ Đại lang – Võ Nhị lang trong “Thủy hử truyện” của Thi Nại Am và trong “Kim Bình Mai” của Tiếu Tiếu Sinh. 

Sự viết lại ở đây, diễn đạt theo cách của nhà cấu trúc luận/ tự sự học xuất sắc người Pháp Gérard Genette, giả định rằng tác phẩm của Diêm Liên Khoa là “một bản viết trên miếng da, được viết trên đó lần thứ hai, lần viết đầu tiên đã bị cạo xóa đi”. 

Bị cạo xóa đi, nhưng ký ức về nó trong cộng đồng tiếp nhận, cộng đồng diễn giải thì vẫn còn nguyên, vì thế nó luôn đặt định người đọc vào sự đối sánh giữa các hạ bản (của Thi Nại Am và Tiếu Tiếu Sinh) với thượng bản (của Diêm Liên Khoa) và từ đó tạo ra những bất ngờ thú vị.

Nhà văn Diêm Liên Khoa Ảnh: L.G

Bằng thao tác chuyển vị mạch truyện, nhà văn đã đưa các nhân vật tiểu thuyết từ thời phong kiến trung đại về thời cải cách mở cửa hiện đại, từ huyện Thanh Hà về vùng núi Bá Lâu. 

Bản thân các nhân vật, nhất là nàng Kim Liên, cũng được hoán cải triệt để: từ con người của cử chỉ hành động và lời nói sang con người của dòng tâm tư khá phức tạp; từ một nữ nhân tuyệt đích đa dâm, gian ác và vô luân, thành một người đàn bà đảm đang, khéo vun vén, nhân hậu và giàu đức hy sinh. 

Võ Nhị lang cũng vậy: từ một hảo hán đầu đội trời chân đạp đất, quen uống rượu bát to ăn thịt miếng lớn, vì nghĩa mà có thể đốt nhà giết người không chùn tay, lại trở thành một người đàn ông cũng biết lụy tình, biết tính toán thiệt hơn trước tiền bạc và địa vị, thậm chí còn rất biết cách bán mình để đổi lấy chức trưởng công an trấn, cho thỏa chí côn bằng. 

Ý vị hài hước của tiểu thuyết, phần nào đấy, cũng chính là hiệu quả thẩm mỹ có được từ lối viết/ lối đọc liên văn bản mà nhà văn đã tạo ra: khi ký ức về những Phan Kim Liên và Võ Nhị lang của “Thủy hử truyện” và “Kim Bình Mai” vẫn còn đó, người ta không thể không mỉm cười trước hình ảnh một nàng Kim Liên trong vai bà chủ cửa hàng quần áo đang đon đả bán bán buôn buôn với khách, hay một Võ Nhị lang vốn vô pháp vô thiên lại cứ trang phục công an xắng xở khắp nơi để giữ gìn trật tự phố phường.

Nhưng ở bên trong và ở đằng sau sự hài hước, tác phẩm của Diêm Liên Khoa còn là nỗi buồn, nỗi chua chát ngao ngán, và cả bất lực. Vì sự hối hả đến cuồng loạn, dường như không thể kiểm soát nổi của đời sống hiện đại. Vì cái hồn hậu thuần phác của bản tính người, cái “thiên lương”, đang chỉ còn là những mánh lới và thủ đoạn. Và vì người đàn bà, nhất là những người đàn bà đẹp, vẫn luôn ở vị thế của những hàng hóa tiềm năng, có thể mua bán, có thể đổi chác. 

Đọc “Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn”, không khó để thấy Diêm Liên Khoa ưu ái nhân vật nữ chính của mình đến thế nào. Ông cho nàng nhan sắc, sự quyến rũ, và cả sự tự ý thức đến tận độ về sức mạnh phái tính qua nhan sắc và sự quyến rũ rất đỗi đàn bà ấy. Nhưng ông lại đặt nàng vào tình thế dở khóc dở cười khi bị “lừa” về làm vợ một người đàn ông tầm thường, từng ly hôn và mắc bệnh liệt dương, làm chị dâu sống cùng nhà với một gã em chồng trẻ trung, đầy chất nông dân hãnh tiến và sự nghiêm cẩn đạo đức đến đáng ghét. 

Sự chuẩn bị ấy mang lại chương Ba, với nửa cuối – khi Kim Liên tấn công Võ Nhị lang bằng tất cả thân thể và lời lẽ của mình – như một đoạn tuyệt bút của sự phối trộn giữa ham muốn tột cùng với thất vọng ê chề, giữa yêu thương đẫm đìa với hận thù ngùn ngụt. Ở đây, sự viết lại đã tạo ra chân dung một nàng Kim Liên đảo ngược so với nhân vật Phan Kim Liên ở các hạ bản: đáng thương, nhưng cũng rất đáng trọng, chính vào lúc nàng hoàn toàn lõa thể và đang cháy hết mình trong lửa dục.

Hiển nhiên, không cần phải chờ đến tiểu thuyết “Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn” của Diêm Liên Khoa thì người ta mới biết đến viết lại như một hiện tượng thú vị của đời sống văn chương. Trong “Giáo trình lý thuyết liên văn bản” (NXB Đại học Huế, 2019), với rất nhiều ví dụ tự cổ chí kim được dẫn ra và phân tích, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thuấn đã khẳng định: “Viết lại/ viết tiếp là một truyền thống văn học. Cho đến nay, nó là một truyền thống lớn và đầy sức sống” (Sđd, tr 320). 

Trong văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn có hẳn một tập sách lấy tên là “Chuyện cũ viết lại”. Trong văn học Việt Nam, chỉ xét giai đoạn hiện đại và đương đại thôi, đã có thể kể đến Lưu Quang Vũ với vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, viết lại truyện cổ tích; đến Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn “Không có vua”, viết lại “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky và “Huyền thoại phố phường”, viết lại “Con đầm pích” của  Pushkin…, gần đây nhất là mười truyện ngắn trong tập “Cổ tích cho ngày mới” của Lê Minh Hà, viết lại các truyện cổ dân gian khá phổ biến, như “Tấm Cám”, “Sự tích trầu cau”,  “Sự tích hòn vọng phu”...

Nhưng đến đây thì tôi muốn nói tới hiện tượng “viết tiếp”, như là một “viết lại” theo cách đặc biệt hơn. Tác giả của cuốn giáo trình nói trên cho biết: “Bản viết tiếp khác bản viết lại ở chỗ, bản viết tiếp là phần nối tiếp của một tác phẩm nghệ thuật trong cùng một loại hình và thường là trong một ngôn ngữ tương đồng nhưng được thực hiện bởi một tác giả khác… 

Bản viết tiếp sử dụng lại một/ một số nhân vật của tiền bản, tiếp diễn các hành động của nhân vật ở thời hiện tại và tương lai, đôi khi suy xét lại các hành động và diễn biến tâm lý của nhân vật đã diễn ra trong tiền bản từ một điểm nhìn khác” (Sđd, tr 313, 314). 

Theo cách hiểu này, rõ ràng đã có nhiều tác phẩm của văn chương Việt Nam hiện đại và đương đại là viết tiếp của những tiền bản có trước. Trong số đó, hẳn nhiều người đọc còn nhớ và vẫn giữ được hầu như nguyên vẹn cảm giác hứng thú với hai tác phẩm, là hai truyện ngắn vào loại xuất sắc nhất của nhà văn Hòa Vang: “Nhân sứ”, viết tiếp “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân, và nhất là “Sự tích những ngày đẹp trời”, viết tiếp truyện dân gian “Sơn Tinh – Thủy Tinh” (in trong tập “Hạt bụi người bay ngược”, NXB Hội Nhà văn & Công ty Đông A, 2005). 

Hai truyện ngắn viết tiếp này, đương nhiên, không phải là sự cạo xóa những hạ/ tiền bản có trước để viết đè lên, mà là nối vào, là kể thêm những tình tiết mới. Nhưng oái oăm, cái sự nối vào/ kể thêm ấy lại mang ý nghĩa của sự đọc lại, đọc khác và diễn giải khác đi về những sự kiện, hành động và diễn biến tâm lý của nhân vật trong quá khứ. Hay nói cách khác, viết tiếp ở đây luôn thường trực, thậm chí luôn biểu hiện ra thành sự đối thoại và phản biện của hậu bản với tiền bản. 

Ở “Nhân sứ”, sau khi đã cho Kim Thân La Hán Sa Ngộ Tĩnh mắc cái chứng mất ngủ rất đỗi người thường, nhà văn lại tiếp tục bày ra một cuộc khảo chứng công khai về “phẩm tính người” tại chùa Lôi Âm huyền thoại (để chọn ra nhân sứ) với Như Lai làm chứng nhân, ứng viên là đoàn bốn thầy trò đã hoàn thành việc thỉnh kinh, giám khảo là các nam phụ lão ấu tới chiêm bái Tây Thiên. 

Cuộc khảo chứng cũng chính là cuộc lật tẩy. Đây là Thiên Đàn Công Đức Phật Đường Tam Tạng: “Miệng ông ấy luôn bảo: Thật thà là căn cốt của người tu hành, nhưng chính ông ấy lại mở đầu việc thâu nạp đồ đệ bằng cách lừa Tôn Ngộ Không mặc vào bộ quần áo trấn yểm và đội chiếc mũ kim cô… 

Người nhân hậu tử tế ai lại lấy cái đau đớn lăn lộn của đồ đệ làm sức ép bắt bí cốt hòng thoát cái thân mình như thế bao giờ…”. Còn Đấu Chiến Thắng Phật Tôn Ngộ Không và Tĩnh Đàn Sứ Giả Trư Bát Giới thì dù thế nào đi chăng nữa cũng chỉ là một con khỉ và một con lợn, chưa thể gọi là Con Người. Duy có Sa Tăng mới thực là người, không chỉ bởi chứng mất ngủ, mà bởi chính sự Nhạt Nhẽo, sự Gồng Gánh suốt đời và thậm chí: “có thể ăn thịt người khi đói khát cùng cực”, chính những “giới hạn người” ấy mới làm nên Sa Tăng như một nhân sứ, một “đại diện đúng” cho tổng thể cái diễm phúc và tội nợ phải làm người trên cõi thế. 

Ở “Sự tích những ngày đẹp trời”, rất thú vị khi những “giới hạn người” được nhà văn lặp lại, nhưng trong ngữ cảnh của một câu chuyện tình. Cái đáng chú ý ở đây không phải là những lời thổ lộ niềm yêu  đẫm đìa đau đớn hay sự giãi giề trần tình nỗi oan khuất vạn đại của Thủy Tinh trong lần gặp lại Mỵ Nương, mà chính là ở “những phút xao lòng” của người thiếu phụ đã chiếm được trái tim của cả thần núi và thần biển. 

Các nhà folklore và các nhà huyền thoại học có thể “đọc” truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh theo các cách khác nhau, tùy ý, nhưng có lẽ hiếm ai “đọc” nó thành một câu chuyện tình, thành nguyên cớ để lý giải về giọt mưa thu thánh thót trong những ngày đẹp trời, thành cái cảnh đậm chất Từ Trẩm Á, Quỳnh Dao như Hòa Vang: “Mỵ Nương mở cửa, không đừng được, đưa tay hứng một giọt mưa. Hạt nước mọng tròn giữa lòng bàn tay nàng tiếp hơi ấm bàn tay, tỏa bụi nước ấm. Chút bụi trắng tinh lấp lánh giữa lòng bàn tay, Mỵ Nương đưa lên môi. Vị mặn của muối. Mỵ Nương mấp máy gọi thầm: Thủy Tinh! Thủy Tinh!...”. 

Đấy chính là cái “giới hạn người” mà nhà văn đã tạo ra khi viết tiếp truyện dân gian, một giới hạn đã được nới rộng tối đa, đủ để người ta tự biến mình thành một “ngọn gió thơm mát”, vượt qua “những triền đê che chắn bình yên một thời”, rướn lên, “hồ hởi ào theo những con sông tới Biển”…

Từ một vài ví dụ ngẫu nhiên đã đủ để thấy, thật ra, lịch sử văn chương không nhất thiết phải là sự thêm vào liên tục của loại tác phẩm “khơi những gì chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Những cuốn sách gọi những cuốn sách. Những cuốn sách chồng lên những cuốn sách và lưu dấu. Chỉ cần thế, cùng với tài năng đặc biệt của sự xoay xở với những cái có sẵn từ trước, biết viết lại/ viết tiếp, có thể đã là đủ đảm bảo cho văn chương yên tâm trên hành trình miên viễn.

Hoài Nam

Tối 18/4, Công an TP Hồ Chí Minh tổ chức Lễ hưởng ứng Cuộc thi sáng tạo Video “Tổ quốc bình yên” gắn với Chương trình giao lưu và đào tạo kỹ năng kể chuyện bằng video. Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng ban Chỉ đạo cuộc thi dự, chỉ đạo buổi lễ.

Chiều 18/4, Công an TP Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống các lực lượng: Tham mưu, An ninh nội địa, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Tài chính CAND. Đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội dự và phát biểu chỉ đạo tại lễ kỷ niệm.

Một đoàn tàu gồm 8 tàu chở dầu đã bắt đầu hành trình băng qua eo biển Hormuz. Đây được coi là đợt lưu thông quy mô lớn đầu tiên kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bùng nổ cách đây 7 tuần. Tuy nhiên, hy vọng về việc khai thông huyết mạch dầu khí toàn cầu này vẫn mong manh khi Tehran tuyên bố thắt chặt kiểm soát quân sự tại đây.

Ngày 18/4/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Ban liên lạc cựu tù chính trị Côn Đảo (Trại 1 -6B) đã tổ chức buổi họp mặt truyền thống kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và giải phóng Côn Đảo. Tham dự họp mặt có Trung tướng Châu Văn Mẫn, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND (Bộ Công an), cùng gần 100 cựu tù Côn Đảo, cựu tù kháng chiến từ các vùng miền đã về dự.

Theo Cục CSGT, tất cả các học viên trước khi tham dự ký thi sát hạch GPLX đều bắt buộc phải xem video clip cảnh báo về tai nạn giao thông. Đây cũng là một trong những bước nhằm xây dựng đạo đức, trách nhiệm tối thiểu cho người lái xe mà lực lượng CSGT đang hướng tới.

Khảo sát của Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh đưa ra vào ngày 16/4 vừa qua cho thấy, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng (VLXD) chính đều tăng do giá xăng, dầu tăng. Đây là cú sốc tăng giá thứ 2 sau chuyện tăng giá do khan hiếm VLXD, cung không đủ cầu xảy ra thời gian qua. Tình trạng này kéo dài đang gây sức ép không nhỏ lên các công trình hạ tầng đô thị, giao thông trọng điểm đã và đang triển khai... 

Cục Cảnh sát hình sự và Công an các đơn vị, địa phương liên quan đã làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trực tuyến “di cư” từ Campuchia về Việt Nam, sau khi cơ quan chức năng nước bạn đẩy mạnh truy quét; tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng CAND.

Tháng 4/2026, giữa Khu công nghiệp (KCN) Quán Ngang – nơi từng được kỳ vọng là điểm sáng thu hút đầu tư phía Nam tỉnh Quảng Trị – một công trình xử lý nước thải có tổng mức đầu tư hơn 100 tỉ đồng vẫn nằm im lìm sau hơn 8 năm kể từ ngày khởi công. Đáng nói, đây không phải lần đầu câu chuyện này được đặt ra. Nhiều năm qua, tình trạng chậm tiến độ, lỡ hẹn của dự án đã liên tục được phản ánh, nhưng đến nay, nhà máy vẫn chưa thể vận hành chính thức.

UBND phường Thanh Liệt (Hà Nội) vừa phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành cắt điện, nước đối với hơn 620 nhà xưởng, cơ sở vi phạm quy định về pháp luật đất đai, trật tự xây dựng trên địa bàn phường. Đây là các công trình được xây dựng trên đất nông nghiệp, xây dựng trái phép...

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文