Hội thảo tổng kết 50 năm văn học Việt Nam sau 1975:

Những vấn đề đặt ra và triển vọng phát triển văn học

10:30 26/09/2025

Ngày 26/9, tại TP Đà Nẵng, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Tổng kết Văn học Việt Nam sau năm 1975 với chủ đề “Những vấn đề đặt ra và triển vọng phát triển Văn học.

Đây là cuộc hội thảo thứ hai trong chuỗi ba hội thảo toàn quốc, quy tụ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu từ khắp mọi miền đất nước. Sự kiện ghi dấu một chặng đường 50 năm văn học Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất, với nhiều vấn đề cần nhìn lại và định hướng cho tương lai.

Hội thảo tại Đà Nẵng diễn ra trong không khí thẳng thắn, cởi mở. Tham dự Hội thảo có nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; đông đảo nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học, cùng các cây bút tiêu biểu của nhiều thế hệ. 

Những vấn đề đặt ra và xu hướng phát triển của văn học Việt Nam sau năm 1975 tới nay

Tại Hội thảo, nhà văn Nguyễn Bình Phương, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, trình bày đề dẫn với chủ đề: “Những vấn đề đặt ra và xu hướng phát triển của văn học Việt Nam sau năm 1975 tới nay”, nhấn mạnh: “Trong lịch sử hình thành văn hóa một dân tộc, 50 năm cũng là khoảng thời gian không dài. Nhưng tính trong tương quan những giai đoạn văn học, thì là 50 năm lại khá đáng kể, vì dù sao đó cũng là nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ với một thời đại phát triển chóng mặt như bây giờ, đó sẽ là quãng thời gian có thể giải quyết được nhiều vấn đề trọng đại, thậm chí mang tính sống còn cho con người”.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cùng đông đảo nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học, cùng các cây bút tiêu biểu của nhiều thế hệ tại Hội thảo. 

Chắc chúng ta đều dễ thống nhất rằng, văn học nghệ thuật là một phần cốt cách, diện mạo tâm hồn dân tộc. Đời sống biến chuyển, tâm hồn con người biến chuyển, văn học cũng hiển nhiên biến chuyển. Thời đại sang trang thì văn học cũng sang trang theo.

Có thể khẳng định rằng nửa thế kỷ qua, tính từ sau 1975 cho tới hôm nay, dân tộc ta đã trải qua rất nhiều cung đường, nhiều cung bậc nhận thức để phát triển. Rõ ràng, giai đoạn từ khi Tổ quốc thống nhất so với giai đoạn khi còn bị chia cắt chìm trong chiến tranh, đã có sự thay đổi, khác biệt rất đáng kể, cả từ nhận thức cá nhân cho tới toàn cộng đồng.

Vậy văn học 50 năm qua ra sao, nó có khác văn học giai đoạn trước 1975 không, khác ở khía cạnh nào, tốt hơn hay kém hơn, hay chỉ thuần tuý là khác? Đây là câu hỏi chính dẫn tới việc Hội Nhà văn đứng ra tổ chức 3 cuộc hội thảo, ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam của tổ quốc. Cuộc đầu tiên đã tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/9 vừa qua. Và cuộc hội thảo tại Đà Nẵng là cuộc thứ hai. Cuộc thứ 3 sẽ tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 10 tới.

Và ở cuộc hội thảo hôm nay, Ban Tổ chức mong muốn một sự thẳng thắn mổ xẻ, phân tích, đánh giá về những vấn đề của văn học 50 năm qua ra sao, về sức vóc, về kích thước, về diện mạo. Chúng ta xem xem thế mạnh, thành tựu mà văn học trong 50 năm qua đạt được, đồng thời cũng thẳng  thắn nhìn nhận những hạn chế, những non yếu, những khúc mắc mà văn học thời gian qua đang vấp phải.

Đông đảo nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tham gia thảo luận xu hướng phát triển của văn học Việt Nam tại Hội thảo. 

Nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đòi hỏi các nhà văn phải mạnh dạn đổi mới tư duy nghệ thuật, đồng thời giữ vững cốt lõi của bản sắc dân tộc.

Tại hội thảo, nhiều ý kiến thống nhất rằng văn học nghệ thuật là cốt cách, diện mạo tâm hồn dân tộc. Mỗi biến chuyển của đời sống, mỗi trang sử mới đều để lại dấu ấn trong văn học. Nếu thời kỳ trước 1975 gắn với cuộc chiến tranh giành độc lập, thì 50 năm qua là giai đoạn đất nước thống nhất, đổi mới, hội nhập, với nhiều bước ngoặt lịch sử.

Nửa thế kỷ văn học sau 1975 đã hình thành một đội ngũ đông đảo nhà văn, nhà thơ, nhiều tác phẩm phản ánh công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, khắc họa đời sống con người trong hòa bình. Văn học cũng góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, bồi đắp tinh thần nhân ái, hòa hợp dân tộc.

Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, nhiều ý kiến cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế. Có nhà nghiên cứu cho rằng: Văn học 50 năm qua chưa thực sự tạo nên những tác phẩm mang tầm vóc thời đại. Còn thiếu sự đa dạng, thiếu những khuynh hướng quyết liệt, rạch ròi. Chưa có nhiều gương mặt bề thế, tác phẩm xuất sắc để khẳng định vị thế quốc tế. Một số ý kiến cho rằng văn học đang “xa rời đời sống”, chưa bám sát những vấn đề nóng bỏng của xã hội, chưa đi sâu vào những bi kịch tinh thần, những nỗi đau, rạn nứt của cộng đồng sau chiến tranh.

“Trách nhiệm xã hội và hội nhập quốc tế – hai yêu cầu không thể thiếu của văn học thời toàn cầu hóa.”

Hội thảo đặt ra câu hỏi: Văn học 50 năm qua có thật sự hun đúc tinh thần dân tộc, cảnh tỉnh lương tri, góp phần hàn gắn và xây dựng tinh thần hòa hợp, hòa giải? Văn học có giúp ích cho đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân trong giai đoạn đầy biến động không?. Ở tầm rộng hơn, văn học có bảo vệ, làm giàu thêm bản sắc văn hóa truyền thống? Có giúp con người vững chãi hơn trước sóng gió thời đại toàn cầu hóa?

Theo Thạc sĩ chuyên ngành LLVH, nhà thơ Mai Văn Hoan: ăn học cần sự đổi mới, văn học phải trở về với sứ mệnh nguyên thủy: phục vụ con người, giải phóng con người khỏi bóng tối, hướng đến cái thiện. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là khát vọng bất biến của văn học.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề hội nhập được nhấn mạnh. Nhà văn Hoàng Thụy Anh cho rằng, muốn phát triển, văn học Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy quốc tế. Cần có những tác phẩm đủ sức giao lưu, tranh biện và khẳng định bản sắc Việt Nam trước bạn bè thế giới. Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Văn học Việt Nam phải giữ vững cốt lõi bản sắc, đồng thời đổi mới hình thức, mở rộng đề tài, nâng cao chất lượng để bắt nhịp với thế giới.

Đại diện cho thế hệ nhà văn trẻ, với xu hướng người đọc trước thách thức AI theo nhà văn Hoàng Thụy Anh, ngày trước, vai trò của độc giả là lĩnh nạp thông tin, cảm thụ tác phẩm thụ động. Ngày nay, vai trò này đã đổi thay rõ rệt. Với sự phát triển của công nghệ, độc giả vừa là người tiêu dùng vừa là người sáng tạo. Họ đọc, rồi viết review, sáng tạo nội dung liên quan đến tác phẩm và tham gia vào quá trình lan truyền giá trị của tác phẩm đó. Sự đổi mới này đã làm cho không gian văn học đa diện và năng động hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối văn học với công chúng. Vì vậy, việc đọc trong kỷ nguyên số đòi hỏi độc giả phải làm nhiều hơn là chỉ thâu nhận thông tin. Họ cần biết trân trọng tác giả, giữ tinh thần đối thoại và tự chịu trách nhiệm khi chia sẻ hay bình luận về tác phẩm...

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Quang Thiều phát biểu tại Hội thảo. 

Theo Ban tổ chức, Hội thảo tại Đà Nẵng không chỉ tổng kết 50 năm văn học mà còn mở ra những hướng đi mới. Các đại biểu đều thống nhất rằng, để văn học Việt Nam phát triển xứng tầm: Cần khuyến khích sáng tạo trên nền tảng bản sắc dân tộc. Đổi mới phương pháp phê bình, coi trọng lý luận để đồng hành cùng sáng tác. Mở rộng giao lưu quốc tế, đưa văn học Việt Nam ra thế giới.

PGS – TS Đinh Trí Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An cho rằng: Văn học Việt Nam muốn bước ra thế giới thì phải dám đi sâu vào hiện thực, vào những bi kịch và khát vọng của con người hôm nay, chứ không thể chỉ dừng ở sự phản ánh hời hợt. Nửa thế kỷ qua, văn học Việt Nam sau 1975 đã đồng hành cùng dân tộc, phản ánh những đổi thay lớn lao, nhưng cũng còn nhiều giới hạn. Hội thảo tại Đà Nẵng lần này không chỉ là dịp nhìn lại, mà còn là lời nhắc nhở trách nhiệm của người cầm bút trước xã hội.

Tiến sĩ, nhà phê bình Trần Huyền Sâm bày tỏ, chủ đề của hội thảo là "Những vấn đề đặt ra và triển vọng phát triển văn học", điều quan trọng nhất đó chính là kết nối văn học và bạn đọc thời công nghệ số. Một thách thức khác là sự thay đổi thói quen tiếp nhận của công chúng. Trong kỷ nguyên số, người đọc có thể tiếp cận vô vàn nguồn thông tin, nhưng cũng dễ bị chi phối bởi dòng chảy văn hóa lai căng, thiếu chọn lọc. Do đó, trách nhiệm của văn học càng lớn hơn: làm sao để giữ chân bạn đọc bằng giá trị đích thực, bằng sức mạnh của ngôn từ và tư tưởng. Đồng thời, người viết cũng phải tận dụng công nghệ, xuất bản điện tử, mạng xã hội để quảng bá tác phẩm một cách hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh với văn học quốc tế.

Ban tổ chức cần nhấn mạnh tinh thần “thẳng thắn và tôn trọng sự khác biệt”, để từ đó xây dựng một nền văn học vừa đậm đà bản sắc, vừa đủ sức hội nhập, đóng góp cho văn hóa nhân loại. Nghệ thuật, tất cả các bộ môn nghệ thuật sinh ra là để phục vụ con người, giải quyết câu chuyện của con người. “Vì lẽ đó, nói tới văn học, trước hết là nói tới giá trị của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng, trong bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc, trong kiến tạo con đường đi về phía cái thiện của con người”, nhà phê bình Trần Huyền Sâm nói thêm.

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Văn học là dòng chảy của tâm hồn dân tộc. Chúng ta cần lắng nghe tiếng nói từ quá khứ, nhưng quan trọng hơn là kiến tạo những giá trị mới cho tương lai, để văn học thực sự đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, chú trọng bồi dưỡng thế hệ nhà văn trẻ, tạo điều kiện để họ mạnh dạn đổi mới, mở rộng hợp tác quốc tế để đưa văn học Việt Nam ra thế giới; đồng thời ứng dụng công nghệ số nhằm lan tỏa tác phẩm đến đông đảo công chúng. Đây được xem là những giải pháp căn cơ giúp văn học Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế trong bối cảnh toàn cầu hoá”.

Hoài Thu

Cao Bằng – mảnh đất địa đầu Tổ quốc với hơn 333 km đường biên giới giáp Trung Quốc không chỉ là nơi giữ gìn chủ quyền thiêng liêng mà còn là địa bàn có dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc đưa pháp luật đến với người dân vùng cao, biên giới không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành “chìa khóa” quan trọng để giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở.

Mấy hôm nghỉ lễ, tôi lướt mạng xem năm nay “tình hình thế nào”, câu chuyện “bên này, bên kia” đã có gì khác trước, khi mà đất nước đã qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Chiến thắng 30/4/1975. Và thật buồn khi những giọng điệu ngược lối, trái đường vẫn tái diễn, những chiêu trò như “tưởng niệm ngày quốc hận”, “hội luận tháng tư đen” tiếp tục được các hội nhóm chống phá ở hải ngoại xoáy lại với các hình thức, tính chất, mức độ khác nhau.

Thời gian qua, Công an các đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh với  tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi. Trong đó, phòng ngừa, đấu tranh nhóm thanh thiếu niên tụ tập, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm giải quyết mâu thuẫn, gây rối trật tự công cộng.

Nhiều người chọn phương án trở lại TP Hồ Chí Minh trước lễ 1 ngày để tránh kẹt xe nên tối 2/5 dòng phương tiện từ các tỉnh đổ dồn về 2 cửa ngõ phía Đông và phía Tây. Một lượng lớn phương tiện được giải tỏa trong đêm, tuy nhiên đến chiều cuối kỳ nghỉ lễ (3/5) giao thông tại các cửa ngõ TP Hồ Chí Minh tiếp tục tăng nhiệt…

Từ nhiều năm nay, Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an các tỉnh, thành miền Trung cùng Công an và chính quyền các xã, phường phối hợp ngành đường sắt nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông (ATGT) đường sắt trên tuyến. Không chỉ đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, tăng cường xử lý vi phạm, lực lượng chức năng còn tập trung xóa bỏ lối đi tự mở, xây dựng hầm chui, thiết lập rào chắn hàng trăm đoạn – tuyến gần khu dân cư, xây dựng các mô hình tuyên truyền… Thế nhưng, tình hình trật tự ATGT đường sắt tại một số địa phương vẫn... "nóng".

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam với tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đã và đang có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự (ANTT). Đồng hành cùng những đóng góp ấy là dấu ấn bền bỉ, sâu sắc của lực lượng An ninh nội địa Công an nhân dân (CAND). 

Trong khoảnh khắc khó khăn, gian nan của cuộc sống đời thường, những chiến sĩ Công an tỉnh Sơn La lại lặng lẽ trở thành điểm tựa bình yên cho Nhân dân.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文