Biến kho phim lưu trữ điện ảnh Việt Nam thành “ngân hàng ký ức sống”

16:20 25/11/2025

Hiện nay, Viện Phim Việt Nam đang bảo quản một kho tàng điện ảnh vô giá, khổng lồ, với gần 20.000 tên phim cùng hàng chục ngàn băng video quý hiếm. Tuy nhiên, một sự thật đáng báo động là trong số đó chỉ hơn 500 tác phẩm được giới thiệu đến công chúng. Con số chênh lệch này cho thấy một khoảng cách lớn giữa di sản văn hóa đồ sộ của quốc gia và khả năng tiếp cận của người dân.

Ngày 25/11, tại TP Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XXIV, Viện Phim Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ trong tình hình hiện nay”.

Phát biểu tại hội thảo, bà Lê Thị Hà, Viện trưởng Viện Phim Việt Nam khẳng định, tư liệu hình ảnh động lưu trữ có vai trò sống còn đối với nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là văn hóa và giáo dục.

Hội thảo khoa học “Phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ trong tình hình hiện nay”.

Việc phổ biến, quảng bá giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của những tư liệu này, nhất là các tác phẩm điện ảnh Việt Nam về đề tài chiến tranh cách mạng, được xem là một yêu cầu luôn luôn cần thiết và mang tính chiến lược quốc gia.

Khái quát về công tác khai thác, phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ tại Viện Phim Việt Nam, TS. Ngô Đặng Trà My, Phó Viện trưởng Viện Phim Việt Nam cho biết, Viện đang bảo quản một kho tàng điện ảnh vô giá, với gần 20.000 tên phim cùng hàng chục ngàn băng video quý hiếm.

Bà Lê Thị Hà, Viện trưởng Viện Phim Việt Nam phát biểu mở đầu hội thảo.

Bộ sưu tập này đặc biệt nổi bật với những tác phẩm kinh điển về chiến tranh cách mạng như: “Chung một dòng sông”, “Vợ chồng A Phủ”, “Cánh đồng hoang”, “Bao giờ cho đến tháng Mười” và các tư liệu hình ảnh động quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, theo TS. Ngô Đặng Trà My, dù sở hữu khối tài sản khổng lồ như vậy, nhưng chỉ hơn 500 tác phẩm được giới thiệu đến công chúng. Con số chênh lệch này phơi bày một khoảng cách lớn giữa di sản văn hóa đồ sộ của quốc gia và khả năng tiếp cận của người dân.

Đại diện Viện Phim Việt Nam đã chỉ ra những hạn chế cụ thể trong hoạt động khai thác. Trong đó, hoạt động tổ chức phục vụ khán giả trong nước thiếu tính định kỳ cố định, các chương trình giao lưu, tuần phim chuyên đề chưa thực sự sinh động, khiến công chúng tham gia có xu hướng giảm dần, chưa tạo được thói quen thưởng thức phim lưu trữ.

TS. Ngô Đặng Trà My khái quát về công tác khai thác, phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ tại Viện Phim Việt Nam.

Tiếp đó, việc giới thiệu phim Việt Nam lưu trữ ra nước ngoài rất ít ỏi, thậm chí gần như bị ngưng trệ trong giai đoạn 2020-2023. Điều này làm giảm khả năng quảng bá hình ảnh đất nước thông qua công cụ quyền lực mềm này. Cuối cùng, hoạt động phổ biến trên không gian mạng internet còn dừng ở bước thử nghiệm, với số lượng video clip giới thiệu rất hạn chế, không thể đáp ứng được nhu cầu công chúng số trong thời đại 4.0.

Những hạn chế này đến từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Nguyên nhân khách quan bao gồm rào cản quy định pháp lý phức tạp về bản quyền và quyền sử dụng tư liệu điện ảnh, khiến việc khai thác trên môi trường số bị giới hạn.

Bên cạnh đó là áp lực cạnh tranh khốc liệt từ các loại hình nghệ thuật và giải trí hiện đại, cùng nguồn lực kinh phí hạn chế và hệ lụy sau đại dịch. Việc giải quyết triệt để những trở ngại này sẽ là chìa khóa để “hồi sinh” kho tàng điện ảnh quốc gia, biến nó thành nguồn lực thực sự trong kỷ nguyên mới.

TS. Nguyễn Thế Hùng tham luận tại hội thảo.

Trước những thách thức khó khăn trong công tác phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động lưu trữ, các đại biểu, nhà nghiên cứu đã cùng nhau kiến tạo một lộ trình toàn diện để đánh thức ký ức điện ảnh Việt Nam, biến kho phim lưu trữ thành “ngân hàng ký ức sống” và nguồn lực chiến lược cho sức mạnh mềm quốc gia.

TS. Nguyễn Thế Hùng, nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã đề xuất chiến lược kép nhằm “làm sống động” tư liệu. Thứ nhất là gìn giữ và nghiên cứu thông qua việc bảo quản tuyệt đối và hoàn thiện lý lịch cho từng bộ phim, xem chúng như hiện vật bảo tàng thông qua nghiên cứu bài bản, phối hợp với các nhà làm phim.

Thứ hai là khai thác tiền hậu kỳ, tập trung thu hút thế hệ trẻ bằng cách khai thác những câu chuyện bên lề chưa từng được kể, từ hậu trường, chi tiết mạo hiểm qua điền dã và phỏng vấn. Sau đó, chuẩn bị nội dung số chất lượng cao để phân phối trên nền tảng mạng, dù điều này đòi hỏi nguồn lực khổng lồ.

Tham luận tại hội thảo, TS. Hà Thanh Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, cũng nhấn mạnh rằng, việc khai thác và phát huy giá trị tư liệu hình ảnh động không chỉ là trách nhiệm bảo tồn ký ức dân tộc, mà còn là cơ hội để Việt Nam kiến tạo sức mạnh mềm văn hóa trong thời đại số.

TS. Hà Thanh Vân đã đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm mang tính đột phá.

Khi kho phim lưu trữ quốc gia được nhìn nhận như “ngân hàng ký ức sống”, nó sẽ trở thành nguồn năng lượng tinh thần và sáng tạo, nuôi dưỡng bản sắc Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

Để hiện thực hóa tầm nhìn này, TS. Hà Thanh Vân đã đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm mang tính đột phá: Hoàn thiện cơ chế quản lý và hành lang pháp lý cho “di sản hình ảnh động”; Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới (AI, VR/AR, blockchain) trong phục chế, lưu trữ và phổ biến; Xây dựng chiến lược truyền thông – giáo dục – sáng tạo, đưa di sản điện ảnh vào đời sống đương đại; Phát triển mô hình hợp tác công – tư, gắn bảo tồn di sản với công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo.

Tại hội thảo, các đại biểu, nhà khoa học, nhà nghiên cứu đều thống nhất, việc khai thác di sản điện ảnh phải được nâng tầm thành chính sách văn hóa dài hạn, nằm trong Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Với lộ trình đột phá, từ việc luật hóa đến ứng dụng AI và chuyển đổi tư duy khai thác, điện ảnh Việt Nam sẽ không chỉ bảo tồn ký ức mà còn biến kho tàng này thành nguồn lực chiến lược, kiến tạo sức mạnh mềm văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa.

Phú Lữ

Sau khi Báo CAND đăng tải loạt bài phản ánh, UBND tỉnh Quảng Trị và Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị đã liên tiếp có các văn bản liên quan đến đề xuất nạo vét, tận thu khoáng sản tại Thủy điện Đakrông 4. Đáng chú ý, doanh nghiệp đề nghị rút hồ sơ để điều chỉnh lại phương án thu hồi cát; còn UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành liên quan rà soát toàn diện về sự cần thiết, quy mô và quy trình thực hiện trước khi xem xét, quyết định.

Song song với những ý niệm về các hệ lụy đã trở nên quen thuộc với bất cứ ai, khi căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng trầm trọng đến khả năng vận hành trơn tru của hệ thống kinh tế - xã hội toàn cầu, có một khía cạnh bi thương khó cảm nhận hơn: Sự phác họa và hình thành những cuộc khủng hoảng nhân đạo mới, bên cạnh sự cùng quẫn trong các bi kịch vẫn còn chưa khép lại - điều thường bị che khuất và lãng quên.

Hiện nay, về hệ thống pháp luật, Bộ Chính trị cũng như các cơ quan có thẩm quyền xác định thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và khi chúng ta tháo gỡ được "điểm nghẽn" này thì là “đột phá của đột phá”...

Theo "Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu năm 2026" do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công bố ngày 25/3, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đạt tiến bộ nổi bật khi giảm ít nhất 80% tỷ lệ thanh thiếu niên không đi học kể từ năm 2000, cho thấy những nỗ lực bền bỉ trong mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục.

Trong vụ án cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, có 10 cá nhân là Phó Tổng Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc các doanh nghiệp và một giảng viên đại học đã làm đơn tố giác hai cấp dưới của cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến ép họ phải “chung chi” 5% tiền dự án.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文