Chuyện về một vị tướng miền sông nước Nam Bộ
Quê ông ở xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải (Trà Vinh). Ông kể, hồi ông còn nhỏ, nhà rất nghèo. Do cha sớm thoát ly theo cách mạng, nên với vai trò anh cả trong nhà, ông đã làm rất nhiều việc để giúp mẹ như chèo ghe, nhổ cỏ ruộng.
Năm 1961, bị thiệt lớn sau phong trào Đồng Khởi của quân dân ta, bọn địch chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt. Năm 1962, mới 14 tuổi, đang học lớp 5 trường làng nhưng ông đã lặng lẽ tham gia các hoạt động bí mật ở ấp, như: làm giao liên, chuyển thư từ, tin tức giúp cán bộ địa phương diệt ác, phá kềm, chống địch hành quân càn quét… Một năm sau ông được kết nạp vào Đội TNTP và được phân công làm Đội trưởng đội du kích mật của ấp Cây Xoài.
Một chiều cuối tháng 7/1964, ông lặng lẽ trốn mẹ và 2 em, thoát ly. Ba ngày sau, gặp con tại một chòi vịt ngoài đồng, bà Thạch Thị Suôl mẹ ông nghẹn ngào: “Lớn chút nữa, mẹ sẵn sàng cho con đi bây giờ hãy trở về với mẹ…”. Nhưng ông một mực xin phép mẹ ở lại đơn vị.
Năm 1965, từ nhiệm vụ giao liên Văn phòng Công an huyện Cầu Ngang, ông được điều động về gác Trại giam Công an huyện rồi thành chiến sĩ Cảnh vệ Trại giam Ban An ninh tỉnh Trà Vinh, được trực tiếp tham gia chống địch càn quét. Tháng 10-1967, sau quá trình lập được rất nhiều chiến công (nhất là phối hợp với du kích địa phương tổ chức hàng chục lần bao vây đồn bót, diệt ác, phá kềm, bảo vệ an toàn cho CBCS và những phạm nhân ở trại giam), ông được kết nạp vào Đảng.
![]() |
| Trung tướng Sơn Cang (người đứng giữa). |
Ông Sơn Cang cho biết, đến bây giờ ông vẫn không thể quên trận đánh ác liệt vào một ngày tháng 3/1972. “Hôm đó, khoảng 9h sáng, 3 chiếc tàu chiến từ vàm Cái Nước chạy vô sông Bến Giá (huyện Duyên Hải), cùng 4 máy bay địch từ thị xã Trà Vinh bay ngang căn cứ. Chúng phát hiện ra trại giam, vừa bắn pháo vừa xua lính xông vào. Thời điểm này trại giam còn giữ gần 200 phạm nhân; đặc biệt là có đồng chí Nguyễn Văn Tiết – Trưởng ban An ninh tỉnh và đồng chí Năm Tùng - Phó ban An ninh tỉnh vừa đến thăm và làm việc với trại giam. Một số chiến sĩ ta trúng đạn, bị thương. Trước tình huống cam go đó, theo kế hoạch tác chiến đã vạch sẵn, ông Sơn Cang lập tức nhảy ra khỏi công sự, bắn thẳng về phía máy bay trực thăng địch đã sà sát ngọn cây. Tiếng súng của ông đã hút địch ở dưới mặt đất, nã đạn về phía ông suốt 4 giờ liền và không lùng sục vào khu vực nhà giam, các đồng chí thương binh và phạm nhân được bảo đảm an toàn.
Trong suốt thời gian trước 30/4/1975, mặc dù số phạm nhân ta giam giữ tại Trại giam Ban An ninh tỉnh Trà Vinh rất đông, địch nhiều lần càn quét, nhưng không phạm nhân nào có thể trốn trại. Với thành tích đó, sau này, Trại tạm giam Công an tỉnh Trà Vinh vinh dự được tặng danh hiệu AHLLVTND. Thành tích chung ấy có công sức đóng góp xuất sắc của ông Sơn Cang.
Sau ngày 30/4/1975, ông Sơn Cang được phân công làm Phó Trưởng phòng Bảo vệ Chính trị Công an tỉnh Cửu Long (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh). Ông nhớ lại: “Tại Trà Vinh, trong số 27.000 quan chức, nhân viên chính quyền và quân đội Sài Gòn, có đến gần 100 tên là cảnh sát, gián điệp, tình báo, các đảng phái phản động trốn trình diện, câu kết với nhiều phần tử khác để thực hiện kế hoạch “hậu chiến”, kích động hận thù giữa người Kinh - Khmer, giữa người Khmer và cán bộ cách mạng, gây tình hình phức tạp ở địa phương.
Tháng 6/1976, nhận được tin có một lực lượng phản động âm mưu gây bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền, sau khi báo cáo với cấp trên, ông Sơn Cang đề xuất thành lập Ban chuyên án quyết tâm bắt giữ và tiêu diệt bọn chúng. Qua các biện pháp nghiệp vụ, ông Sơn Cang phát hiện đối tượng P. (người nước ngoài) di chuyển từ TP Hồ Chí Minh về Trà Vinh tổ chức và chỉ huy bạo loạn. Hắn cùng một cô gái đang đóng vai người nuôi bệnh ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh. Ông Sơn Cang quyết định tiếp cận bắt giữ khai thác P.. Y đã khai toàn bộ tổ chức và “bộ máy chính quyền” của chúng từ tỉnh đến xã. Căn cứ vào lời khai của P. và kết quả điều tra, vào tháng 11/1976, ông Sơn Cang đã chỉ huy xóa sổ lực lượng có âm mưu gây bạo loạn, giữ gìn cuộc sống bình yên.
Đó chỉ là thành tích tiêu biểu trong hàng trăm thành tích mà ông Sơn Cang đã cùng đồng đội lập nên từ tháng 4/1975 đến 1/1979.
Tháng 2/1979, ông Sơn Cang được giao nhiệm vụ Tổ phó tổ chuyên gia Công an tỉnh Cửu Long sang giúp Công an tỉnh Kom-pong-sa-pư (Campuchia). Trong 5 năm làm chuyên gia, ông đã cùng Công an tỉnh bạn phá thành công hàng chục vụ án; ngăn chặn kịp thời nhiều âm mưu của địch.
Năm 1983, ông Sơn Cang được phân công trở về làm Trưởng Công an huyện Trà Cú - địa bàn có nhiều biểu hiện phức tạp về ANCT. Bằng nhiều giải pháp đồng bộ do ông vạch ra, chẳng bao lâu sau, Trà Cú đã vươn lên thành một trong những ngọn cờ đầu trong phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ.
Năm 1986, ông Sơn Cang được bầu vào Tỉnh ủy, rồi được điều động về làm Bí thư Đảng bộ xã Phước Hưng, huyện Trà Cú. Bấy giờ, Phước Hưng là xã nông nghiệp nên ông chỉ đạo tập trung làm thủy lợi, đào kênh dẫn nước phục vụ tưới tiêu lúa, hoa màu; thay đổi giống và thay đổi tập quán sạ lúa nước sang sạ khô; sửa chữa đường cũ, làm đường mới để phục vụ cho dân đi lại và lưu thông hàng hóa tạo ra những phương cách làm ăn mới, hiệu quả thiết thực cho đại bộ phận nông dân. Ông phát động phong trào người khá giúp người nghèo làm kinh tế gia đình; thực hiện mô hình lồng ghép bảo vệ ANTT gắn với phát triển kinh tế hộ, xây dựng những xóm ấp sống có nghĩa tình.... Chẳng bao lâu sau, Phước Hưng trở thành xã có kinh tế phát triển khá, ANTT tốt của huyện.
Năm 1988, ông được điều về làm Phó Giám đốc Công an tỉnh Cửu Long. Năm 1992, tỉnh Cửu Long tách ra, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Công an tỉnh Trà Vinh và năm 2003, được phong cấp hàm Thiếu tướng và được bầu là đại biểu Quốc hội khóa XI của tỉnh Trà Vinh. Năm 2004, ông được điều động về Tổng cục An ninh Bộ Công an, sau đó được thăng hàm Trung tướng, được bổ nhiệm làm Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh II.
Điều quý nhất là dù đi đâu và ở cương vị nào, ông Sơn Cang vẫn là người bạn - người anh tốt, gần gũi và luôn quan tâm đến cuộc sống ấm no, yên bình của đồng bào, đồng chí. Bây giờ về hưu, bằng uy tín và tấm lòng của mình, ông vận động nhiều nhà hảo tâm về miền Tây giúp đồng bào Khmer xóa đói giảm nghèo, xây dựng cầu đường và tu sửa chùa, trường học. Ông được bà con địa phương tin mến gọi là vị tướng của dân
