Hệ thống cấp bậc hàm trong CAND
Sĩ quan giữ chức vụ cơ bản ở đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt hoặc địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự thì cấp bậc hàm cao nhất có thể cao hơn một bậc so với cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ tương ứng.
Theo Nghị định 42/2007/NĐ-CP, hệ thống cấp bậc hàm của sĩ quan đảm nhiệm chức vụ cơ bản trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Công an nhân dân, cụ thể như sau:
a) Tiểu đội trưởng: Thiếu uý, Trung úy, Thượng úy;
b) Trung đội trưởng: Trung úy, Thượng úy, Đại úy;
c) Đại đội trưởng: Thượng úy, Đại úy, Thiếu tá;
d) Tiểu đoàn trưởng, Trưởng Công an phường, thị trấn, Đội trưởng: Thiếu tá, Trung tá;
đ) Trung đoàn trưởng, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Trưởng phòng: Trung tá, Thượng tá;
e) Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cục trưởng, Vụ trưởng: Thượng tá, Đại tá;
g) Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tư lệnh cảnh vệ: Đại tá, Thiếu tướng;
h) Tổng cục trưởng: Thiếu tướng, Trung tướng;
i) Bộ trưởng: Thượng tướng, Đại tướng.
Nghị định này cũng quy định: Sĩ quan giữ chức vụ cơ bản ở đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt hoặc địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự thì cấp bậc hàm cao nhất có thể cao hơn một bậc so với cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ tương ứng.
Chính phủ cũng giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể các chức vụ tương đương với chức vụ cơ bản và cấp bậc hàm tương ứng trong Công an nhân dân; các đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt trong Công an nhân dân và địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự; Cấp bậc hàm của sĩ quan, hạ sĩ quan không giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ huy…