Bước đột phá trong lĩnh vực công nghệ cao
5 năm cho một ý tưởng
Ý tưởng chế tạo UAV xuất phát từ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu chế tạo tổ hợp máy bay không người lái phục vụ nghiên cứu khoa học” được bắt đầu từ năm 2008. Nghĩ lại những ngày đầu tiên, TS Phạm Ngọc Lãng - chủ nhiệm dự án kể: “Để có thể thực hiện được ý tưởng này, chúng tôi phải trải qua 3 hội đồng thẩm định. Hội đồng thứ nhất, nhiều người bỏ phiếu trống vì nghĩ rằng đó là ý tưởng hoang đường. Hội đồng thứ 2 gồm các chuyên gia, sau khi nghe trình bày đã chấp nhận cho chúng tôi thực hiện. Hội đồng thứ 3 xét duyệt tài chính, cấp cho dự án 12 tỉ đồng, trong đó có 9,8 tỉ đồng từ ngân sách”.
Xuất phát từ nền khoa học công nghệ trình độ thấp, lại đi thẳng vào lĩnh vực công nghệ cao rất khó của thế giới nên nhóm thực hiện dự án gặp nhiều khó khăn. Để có được vật liệu composite làm vỏ máy bay, các kĩ sư phải mua sợi thủy tinh, keo tổng hợp… rồi pha trộn, chế biến, tạo ra hợp chất đủ cứng, đủ nhẹ, không bị biến dạng dưới điều kiện thay đổi nhiệt độ, áp suất. Một số bộ phận của máy bay như động cơ, cánh quạt, các linh kiện rời… vẫn phải nhập khẩu. “Thiết kế, chế tạo thiết bị bay hàng không rất khó, với UAV càng khó hơn. Việt Nam đã có nhiều nhóm nghiên cứu, chế tạo nhưng không thành công. Với UAV, phải làm sao điều khiển hoàn toàn tự động, lập trình cho nó thực hiện đúng ý đồ của mình. Những mẫu máy bay bay thử nghiệm hôm 3/5 là những máy bay được thiết kế chương trình bay tự động, bay đúng tọa độ định sẵn, khi thực hiện xong nhiệm vụ sẽ tự động quay về. Nếu có trục trặc kĩ thuật sẽ tự động bung dù tự rơi, trước khi rơi sẽ phát tín hiệu cấp cứu để mặt đất có thể định vị được vị trí máy bay rơi” - TS Lãng cho biết.
|
| Những chiếc UAV bay thử nghiệm thành công ngày 3/5 vừa qua. |
UAV sẽ bay khảo sát Tây Nguyên
Theo TS Phạm Ngọc Lãng, việc sản xuất thành công UAV không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa kinh tế rất lớn. Việc nhập khẩu UAV từ nước ngoài có chi phí rất lớn, các chi phí phải trả cho các dịch vụ kĩ thuật kèm theo cũng không nhỏ, trong khi việc mua bán chỉ đơn thuần là giao dịch thương mại (mua nguyên chiếc), đối tác không chuyển giao công nghệ. Khi xảy ra sự cố kĩ thuật nào, việc thay thế linh kiện, phụ tùng hoàn toàn phụ thuộc vào đối tác, đồng thời phải chịu thêm chi phí thuê chuyên gia ngoại sang Việt Nam sửa chữa. Trong khi đó, những mẫu UAV do Việt Nam sản xuất cũng đáp ứng đầy đủ công năng mà giá thành chỉ bằng 30% so với nhập ngoại.
Với dây chuyền công nghệ hiện tại, mỗi năm nhóm dự án có thể sản xuất được 36 chiếc UAV. Những chiếc UAV đầu tiên đã có được đặt hàng từ Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam tham gia chương trình Tây Nguyên 3 vào quí 2, bay khảo sát tình trạng hoang mạc hóa, biến đổi khí hậu, thiên tai vùng Tây Nguyên. UAV cũng sẽ tiến hành bay lấy mẫu khí quyển phục vụ nghiên cứu khoa học theo yêu cầu của Viện Vật lí địa cầu; bay chụp ảnh phục vụ đo đạc bản đồ quốc gia theo đặt hàng của Bộ Tài nguyên – Môi trường…
Ngoài mục đích dân sự thì UAV còn phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng như làm máy bay trinh sát chiến lược tầm xa, xử lý ảnh phục vụ trinh sát mục tiêu… “Chúng tôi đã sản xuất được 20 chiếc UAV, trong đó có 12 chiếc hoàn thiện, bay thử 3 chiếc. Kết quả bay thử nghiệm và kết quả đo kiểm tra kỹ thuật theo giấy phép của Bộ Quốc phòng, các tính năng thiết kế đều đạt. Mục tiêu sắp tới của nhóm dự án là thiết kế máy bay mang được tải trọng lớn hơn, bay xa hơn, kéo dài thời gian bay, mở rộng hành trình bay trải khắp lãnh thổ Việt Nam. Hiện tại, chiếc máy bay lớn nhất bay được bán kính 100km, nếu có các trạm truyền tiếp có thể bay xa 500 - 600km, thời gian bay là 6h, tốc độ 180km/h” - TS Phạm Ngọc Lãng cho biết.
|
5 loại máy bay do Viện Công nghệ không gian đã chế tạo có tính năng kỹ thuật như sau: - AV.UAV.MS1: Chiều dài 1,0m; sải cánh 1,2m; khối lượng tối đa 4kg; tải có ích 1kg; bán kính hoạt động 2km; trần bay 200m; tốc độ lớn nhất 70km/h; thời gian hoạt động trên không 1,0h; được trang bị camera chuyên dụng, cự ly truyền 2km. - AV.UAV.S1: Chiều dài 1,80m; sải cánh 2,70m; khối lượng tối đa 12,0kg; khối lượng tải có ích 1,5kg; bán kính hoạt động 15km; trần bay 3.000m; động cơ 45cm3; tốc độ lớn nhất 120km/h; thời gian hoạt động trên không 2 giờ; đường cất hạ cánh 50m; có thể cất cánh bằng bệ phóng, hạ cánh bằng dù; truyền ảnh online từ camera khoảng cách 15km. - AV.UAV.S2: Chiều dài 2,60m; sải cánh 3,20m; khối lượng tối đa 45kg; tải có ích 15kg; động cơ 80cm3; tốc độ lớn nhất 150km/h; trần bay 3.000m; đường cất, hạ cánh 200m; có thể cất cánh bằng bệ phóng, hạ cánh bằng dù; thời gian hoạt động trên không 3 giờ. - AV.UAV.S3: Chiều dài 3m; sải cánh 3,4m; khối lượng tối đa 115kg; khối lượng tải có ích 35kg; bán kính hoạt động 70km; trần bay 3.000m; động cơ 350cm3; tốc độ nhanh nhất 180km/h; thời gian hoạt động trên không tối đa 5 giờ. - AV.UAV.S4: Chiều dài 4,20m; sải cánh 5,0m; khối lượng tối đa 170kg; khối lượng tải có ích 50kg; bán kính hoạt động 100km; trần bay 3.000m; động cơ 400cm3; tốc độ lớn nhất 180km/h; thời gian hoạt động trên không 6 giờ; bay cả ban ngày và ban đêm. Cả 5 loại máy bay trên đều được thiết kế chế độ điều khiển bay tự động theo chương trình lập sẵn trên nền bản đồ số. Máy bay được trang bị camera máy ảnh tác nghiệp trong cả ban ngày và ban đêm cùng các trang bị nghiên cứu khoa học chuyên dụng khác. Đối với loại AV.UAV.S3, AV.UAV.S4 có thể mở rộng tầm bay xa hơn khi sử dụng liên lạc vệ tinh dẫn đường hoặc các trạm chuyển tiếp mặt đất. |