Những dấu mốc “hộ khẩu” trong lịch sử Việt Nam

11:12 30/07/2021
Hộ khẩu là biện pháp các nhà cai trị phong kiến Trung Quốc đặt ra để kiểm kê số hộ, số dân, phục vụ việc điều hành vĩ mô. Thời còn bị các triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ, chúng đã có các biện pháp thống kê nhân khẩu nước ta khá chi tiết.

Theo sách “Tiền Hán thư” trong tổng tập sử Trung Quốc, thì thời Hán, hai quận Giao Chỉ - Cửu Chân, tức toàn bộ vùng đồng bằng miền Bắc nước ta cuối thế kỷ thứ nhất đã được thống kê có 912.450 người. Sau này, các triều đại phong kiến Việt Nam  cũng sử dụng các biện pháp thống kê dân số từ rất sớm, tuy nhiên, mục đích ban đầu chủ yếu là để triệu tập binh lính.

Quản lý “đại hoàng nam”

Ngay từ thời Lý, sử sách nước ta để lại cho biết, các vua Lý đã quy định đặt các hạng dân thành đại hoàng nam, tức người từ 18 đến 60 tuổi, là độ tuổi sung sức, có khả năng lao động và tham gia quân đội. Từ 15 đến 18 tuổi, được gọi là tiểu hoàng nam.

“Đại Việt sử ký toàn thư”, “Bản kỷ - Kỷ nhà Lý” chép sự kiện vào đời Vua Lý Thái Tông, năm Quý Mùi, niên hiệu Minh Đạo năm thứ 2 (1043): “Tháng 2, vua ngự ở điện Thiên Khánh, xuống chiếu cho các quan chức cứ 3 người cùng đảm bảo cho 1 người, nếu có ai chứa giấu đại nam thì 3 người bị tội cả”.

Thời phong kiến, Trung Quốc đã có các biện pháp thống kê nhân khẩu nước ta khá chi tiết. Ảnh: L.G

Việc quản lý đại hoàng nam được các vua triều Lý rất coi trọng. Cũng ngay trong Minh Đạo thứ 2 này, vào tháng 8, Vua Lý Thái Tông lại xuống chiếu rằng kẻ nào đem bán hoàng nam trong dân gian làm gia nô cho người ta, đã bán rồi thì đánh 100 trượng, thích vào mặt 20 chữ, chưa bán mà đã làm việc cho người thì cũng đáng trượng như thế, thích vào mặt 10 chữ; người nào biết chuyện mà cũng mua thì xử giảm một bậc.

Đến năm Quý Hợi, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 8 (1083) mùa xuân, “Toàn thư” cho biết Vua Lý Thái Tông đích thân thân duyệt các hoàng nam trong nước, định làm 3 bậc khác nhau.

Sang đến đời Vua Lý Nhân Tông, năm Mậu Tuất, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 9 (1118), vào tháng Giêng, nhà vua cũng  xuống chiếu chọn hoàng nam trong dân chúng và binh lính.

Để giám sát số lượng hoàng nam, lực lượng sản xuất và bảo vệ chủ yếu của đất nước, Vua Lý Thần Tông vào năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 (1137) xuống chiếu rằng: “Trong ngoài kinh thành, cứ 3 nhà làm 1 bảo, để giám sát các quan chức đô coi triều ban không được đem con mình cho người khác nuôi làm con để nhờ cậy nhà quyền thế. Kẻ nào không có quan ấm mà can phạm thì bắt giữ tâu lên. Người 1 bảo mà không giám sát nhau thì cùng một tội với can phạm”.

Đặc biệt, việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu ở thời Lý cũng đem theo những quyết định rất nhân văn. Như ở thời Lý Anh Tông, năm Đại Định thứ 7 (1146), tháng 8, vua xuống chiếu rằng các quan quản giáp và chủ đô, phàm sung bổ cấm quân, phải chọn những hộ nhiều người, không được lấy người cô độc, làm trái thì trị tội.

Vào cuối triều Lý, vào thời Lý Cao Tông, khi giặc cướp nổi lên như ong, nhà vua “xuống chiếu chọn các đinh nam, người nào khỏe mạnh, sung vào quân ngũ, sai quan các lộ thống quản để bắt giặc cướp”.

Sổ hộ khẩu đi vào sử

Chuyện thống kê hộ khẩu ở nước ta được chính sử ghi chép, có lẽ bắt đầu từ thời nhà Trần. Đó là sự kiện năm Mậu Tý, niên hiệu Kiến Trung năm thứ 4 (1228), đời Vua Trần Thái Tông. “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Xác định số đinh tỉnh Thanh Hóa. Lệ cũ, hằng năm vào đầu mùa xuân, xã quan (từ lúc đó đổi là xã trưởng) khai báo nhân khẩu gọi là đơn sổ, rồi căn cứ vào sổ, kê rõ các loại tông thất, văn quan văn giai, võ quan võ giai, quan theo hầu, quân nhân, tạp lưu, hoàng nam, già yếu, tàn tật, phụ tịch, xiêu tán... Người có quan tước, con cháu được tập ấm mới được ra làm quan, người giàu có khỏe mạnh mà không có quan tước thì sung quân đội, đời đời làm lính.

Đến mùa xuân năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 11 (1242), Vua Trần Thái Tông tiến hành một loạt thay đổi hành chính, trong đó có việc chia nước làm 12 lộ. Mỗi lộ đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt chức đại, tiểu tư xã.

Ảnh: L.G

Vua Trần Thái Tông đồng thời cũng cho làm đơn số hộ khẩu. Đây là lần đầu tiên, chữ “hộ khẩu” xuất hiện trong chính sử nước ta. “Toàn thư” giải thích: Con trai lớn gọi là đại hoàng nam, con trai nhỏ gọi là tiểu hoàng nam, 60 tuổi gọi là lão, già lắm thì gọi là long lão. Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1-2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3-4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.

Theo một số sách lịch sử, địa chí để lại đến nay, thì vào đời Trần, thế kỷ 13, nước ta có 1,9 triệu đại hoàng nam và 2,1 triệu tiểu hoàng nam.

Năm 1285, sau khi chiến thắng cuộc chiến xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên, vào mùa đông, tháng 10, Vua Trần Nhân Tông xuống chiếu “định hộ khẩu trong nước”. “Toàn thư” viết rằng, triều thần can gián vua là dân vừa qua lao khổ của chiến tranh, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp. Tuy nhiên, Vua Trần Nhân Tông giải thích: "Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét tình trạng hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?". Nghe vua nói thế, quần thần đều khâm phục.

Khi quân Minh xâm lược nước ta vào thế kỷ 15, bộ máy cai trị của chúng tiến hành thống kê dân số của nước ta khá chi tiết. Bộ sử nhà Minh là “Minh sử” cho biết, năm 1408, quân Minh thống kê dân số nước ta, kết quả có 3.120.000 người Kinh và 2.087.500 người các dân tộc thiểu số, mà chúng gọi là người Man.

Phép tuyển duyệt dân số thời Lê

Theo bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” do các sử quan triều Nguyễn dựa vào các tài liệu trước đó biên chép, thì vào thời Lê, từ đời Vua Lê Thánh Tông đến thời Lê Thần Tông đều liên tiếp làm sổ hộ, 3 năm một lần tiểu tạo, 6 năm một lần đại tu. Theo cách làm này, triều đình phái quan đi duyệt tuyển dân đinh, hạ lệnh cho các xã thôn kê khai hộ chính đinh và hộ trú ngụ.

Nhà sử học Phan Huy Chú, trong bộ “Lịch triều hiến chương loại chí”, giải thích về quy chế thời Lê: Dân đinh được chia thành các hạng như sau: Hạng tráng (khỏe mạnh), hạng quân (tham gia quân đội), hạng lão (trên 60 tuổi), hạng cố (người không có sản nghiệp, phải đi làm thuê), hạng cùng (đàn ông không có vợ, đàn bà góa chồng, trẻ mồ côi, người trơ trọi một mình, những người này không nương tựa vào đâu được). Các hạng lão nhiêu, đốc tật, biệt tinh (người được miễn trừ giao dịch) và phiêu lưu thì để ngoài sổ; dân đinh đến tuổi trưởng thành thì biên tên vào sổ; người ngụ cư thì biên vào sổ phụ.

Triều đình nhà Lê quy định mỗi xã phải làm 4 bản sổ đinh; 1 bản dâng lên triều đình, 1 bản nộp Bộ Hộ, 1 bản đệ ti Thừa chính ở trấn và 1 bản để nộp ở huyện. Phàm những việc đánh thuế, tuyển lính đều căn cứ vào sổ này mà thực hiện. Đến những năm niên hiệu Cảnh Trị (thời Vua Lê Huyền Tông), triều đình thấy việc duyệt tuyển phiền phức, có ý chán nản, mới sai các quan chia nhau đi khám thực, thông tính nhân đinh điền sản các xã rồi liệu lượng quân bổ suất số, lập làm phép “bình lệ”, từ sau người sinh ra không tính, người chết đi không trừ.

Tháng 5-1773, chúa Trịnh Sâm hạ lệnh các đại thần bàn định phép làm sổ. Chúa nói với triều thần: “Nhà nước lúc bắt đầu trung hưng, chiếu theo phép cũ, 3 năm một lần làm sổ hộ; năm Cảnh Trị, mới lập ra phép bình lệ không tính số đinh tăng lên hay sút đi, phép ấy thi hành hơn 50 năm, phần nhiều sai suyễn; năm Bảo Thái (đời Vua Lê Dụ Tông) tiếp tục làm sổ cũng chỉ dựa theo ngạch cũ, rồi sau không kế tiếp sửa lại, đến nay lại đã hơn 50 năm rồi. Bây giờ nên cân nhắc phép đời trước, châm chước việc ngày nay, tham khảo mọi mặt định thành điều lệ, xét thực số nhân đinh, sửa đổi lại sổ hộ, cho phép dân được tự liệu lượng nhân khẩu mà chịu số hộ, để cho đủ ngạch trong sổ”.

Sau đó, chúa giao cho Bồi tụng Lê Quý Đôn phụ trách việc thống kê. Tuy nhiên, bộ “Cương mục”, viết: “Quý Đôn kê cứu tra xét quá nghiêm khắc, nhân dân đều nghiến răng căm hờn, họ làm thư nặc danh dán ở cửa phủ chúa Trịnh xin bãi bỏ Quý Đôn đi mà dùng Hoàng Ngũ Phúc, lời lẽ trong thư rất là tha thiết. Do đó, chúa Trịnh Sâm thay đổi mệnh lệnh, cho Ngũ Phúc cùng Quý Đôn đều giữ công việc đôn đốc làm sổ. Ngũ Phúc xin thi hành theo điều lệ đời Cảnh Trị, đại để có nơi tăng, có nơi giảm, có nơi bình bổ vẫn như cũ. Số dân đinh hơi kém với ngạch đinh năm Bảo Thái, dân cũng cho là thuận tiện”.

Sang đến thời nhà Nguyễn, việc thống kê hộ khẩu đã được ghi chép chu đáo. Theo bộ quốc sử “Đại Nam thực lục, chính biên” của triều Nguyễn, số đinh năm Minh Mạng thứ nhất (1820) là 620.240 người. Đến năm Minh Mạng thứ 7 (1826), dân số nước ta là 719.510 người có trong sổ hộ khẩu, so với năm Gia Long thứ 18 (1819), đã tăng thêm 106.589 người.

Thống kê của Bộ Binh, cuối thời Vua Minh Mạng, toàn bộ lực lượng quân đội và quan lại của triều đình là 204.220 người. 

Lê Tiên Long

Tối 18/4, Công an TP Hồ Chí Minh tổ chức Lễ hưởng ứng Cuộc thi sáng tạo Video “Tổ quốc bình yên” gắn với Chương trình giao lưu và đào tạo kỹ năng kể chuyện bằng video. Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng ban Chỉ đạo cuộc thi dự, chỉ đạo buổi lễ.

Chiều 18/4, Công an TP Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống các lực lượng: Tham mưu, An ninh nội địa, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Tài chính CAND. Đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội dự và phát biểu chỉ đạo tại lễ kỷ niệm.

Một đoàn tàu gồm 8 tàu chở dầu đã bắt đầu hành trình băng qua eo biển Hormuz. Đây được coi là đợt lưu thông quy mô lớn đầu tiên kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bùng nổ cách đây 7 tuần. Tuy nhiên, hy vọng về việc khai thông huyết mạch dầu khí toàn cầu này vẫn mong manh khi Tehran tuyên bố thắt chặt kiểm soát quân sự tại đây.

Ngày 18/4/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Ban liên lạc cựu tù chính trị Côn Đảo (Trại 1 -6B) đã tổ chức buổi họp mặt truyền thống kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và giải phóng Côn Đảo. Tham dự họp mặt có Trung tướng Châu Văn Mẫn, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND (Bộ Công an), cùng gần 100 cựu tù Côn Đảo, cựu tù kháng chiến từ các vùng miền đã về dự.

Theo Cục CSGT, tất cả các học viên trước khi tham dự ký thi sát hạch GPLX đều bắt buộc phải xem video clip cảnh báo về tai nạn giao thông. Đây cũng là một trong những bước nhằm xây dựng đạo đức, trách nhiệm tối thiểu cho người lái xe mà lực lượng CSGT đang hướng tới.

Khảo sát của Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh đưa ra vào ngày 16/4 vừa qua cho thấy, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng (VLXD) chính đều tăng do giá xăng, dầu tăng. Đây là cú sốc tăng giá thứ 2 sau chuyện tăng giá do khan hiếm VLXD, cung không đủ cầu xảy ra thời gian qua. Tình trạng này kéo dài đang gây sức ép không nhỏ lên các công trình hạ tầng đô thị, giao thông trọng điểm đã và đang triển khai... 

Cục Cảnh sát hình sự và Công an các đơn vị, địa phương liên quan đã làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trực tuyến “di cư” từ Campuchia về Việt Nam, sau khi cơ quan chức năng nước bạn đẩy mạnh truy quét; tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng CAND.

Tháng 4/2026, giữa Khu công nghiệp (KCN) Quán Ngang – nơi từng được kỳ vọng là điểm sáng thu hút đầu tư phía Nam tỉnh Quảng Trị – một công trình xử lý nước thải có tổng mức đầu tư hơn 100 tỉ đồng vẫn nằm im lìm sau hơn 8 năm kể từ ngày khởi công. Đáng nói, đây không phải lần đầu câu chuyện này được đặt ra. Nhiều năm qua, tình trạng chậm tiến độ, lỡ hẹn của dự án đã liên tục được phản ánh, nhưng đến nay, nhà máy vẫn chưa thể vận hành chính thức.

UBND phường Thanh Liệt (Hà Nội) vừa phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành cắt điện, nước đối với hơn 620 nhà xưởng, cơ sở vi phạm quy định về pháp luật đất đai, trật tự xây dựng trên địa bàn phường. Đây là các công trình được xây dựng trên đất nông nghiệp, xây dựng trái phép...

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文