Sau Julius Caesa là gì?

13:40 16/01/2021
Khi Julius Caesar bị đâm ngã gục bên cạnh nhà hát Pompey bởi một nhóm Nguyên lão La Mã - những người tự xưng là Người giải thoát (Libertatores), Cộng hòa La Mã tưởng như đã được cứu thoát khỏi bóng đen của chế độ độc tài. Tuy nhiên, thực tế sau đó diễn ra không hề giống như các Liberatores trông đợi.

Cái chết của Caesar cuối cùng lại trở thành bậc thang đầu tiên mở ra, đưa con nuôi ông ta - Octavianus - tiến lên đài đăng quang, phế bỏ chế độ cộng hòa, trở thành hoàng đế La Mã đầu tiên -  Gaius Julius Caesar Augustus.

Tam đầu chế

Julius Caesar không tự nhiên trở thành đối tượng mà các Nguyên lão cảm thấy cần phải bị trừ khử bằng mọi giá, kể cả thông qua giải pháp cuối cùng: ám sát. Những nấc thang quyền lực mà ông lần lượt bước qua tạo nên mối hiểm họa ấy, khi trong cả đế chế La Mã, dường như không ai còn đủ khả năng trở thành đối thủ xứng tầm của Caesar nữa.

Xuất thân danh giá của dòng họ Julius quyền quý, thực ra, cũng không giúp ích được cho ông nhiều trong việc đạt đến đỉnh cao danh vọng ấy, nếu tự Caesar không tỏ ra quá xuất sắc trong việc thăng tiến và lựa chọn thời điểm thăng tiến. Bởi vì, những sóng gió chính trường đã sớm cuốn Caesar vào giông bão, và dạy cho ông những bài học đắt giá. Dượng của Caesar - Gaius Marius, một vị tướng nổi danh và một chính khách - lại là kình địch của nhà độc tài khét tiếng xuất chúng Lucius Cornelius Sulla.

Vào thời điểm đó, trong nội tại La Mã, cũng đang hiện rõ những rạn nứt về tư tưởng. Trên chính trường, có hai phái đối lập nhau rõ rệt: Phái Quý tộc (Optimate) và phái Đại chúng bình dân (Populare) - những người muốn quyền lực được chia sẻ rộng rãi hơn thông qua bầu cử trực tiếp. Sulla thuộc phái Quý tộc, còn Marius thuộc phe Bình dân. Do đó, gia đình Caesar mang họa. Sau khi tận diệt các đội quân của Marius trong cuộc xung đột trực tiếp, Sulla tiến hành thanh trừng đẫm máu những kẻ thù chính trị.

Nếu không có những sự can thiệp mạnh mẽ từ nhiều phía, cả từ những gia đình có công giúp đỡ Sulla, Caesar cũng có thể đã bị giết. Sulla miễn cưỡng bỏ qua, nhưng vẫn nói rằng ông "thấy quá nhiều Marius trong Caesar". Chỉ sau khi Sulla chết, Caesar mới dám trở lại  La Mã.

Và đó là một bài học xương máu về sự khốc liệt của chính trường. Bị tước chức thầy tế, Caesar chuyên tâm phục vụ quân đội, cũng như mài giũa những khả năng chính trị của mình. Từ một chức quan hộ quân, ông trở thành quan coi quốc khố (năm 69 trước Công nguyên), rồi thành quan thị chính (năm 65 TCN), trước khi chính thức tham gia cuộc chạy đua bầu cử vào danh hiệu Đại giáo chủ (Pontifex Maximus) - một chức vụ quan trọng có thực quyền cả về thế tục lẫn tôn giáo. Đắc cử, cho dù có những cáo buộc gian lận phiếu, Caesar xem như chính thức có mặt trên đỉnh cao vũ đài chính trị. Năm 62 TCN, con người ấy nhận chức Pháp quan (praetor) La Mã.

Julius Caesar là một chính khách xuất sắc về hùng biện, và rất "dân túy".

Suốt quãng đường đó, Caesar ngày càng chứng tỏ khả năng hùng biện cũng như khuynh hướng dân túy của mình. Nói cách khác, vượt trên các đồng liêu, ông luôn biết cách xuất hiện như một minh tinh điện ảnh thời hiện đại. Không chỉ vậy, ở lĩnh vực quân sự, Caesar cũng giành được những chiến công đáng kể, đủ để củng cố vững vàng ngôi vị.

Tam đầu chế (Triumviratus) La Mã thứ nhất ra đời năm 59 TCN. Đó là một thời điểm mà Caesar mắc kẹt giữa khá nhiều mối quan hệ, mâu thuẫn, xung khắc….chồng chéo, nhưng ông biết cách dàn xếp tất cả theo hướng có lợi cho mình. Năm đó, Caesar nhận chức quan Chấp chính tối cao (Consul), sau một cuộc bầu cử bị đánh giá là đầy gian trá. Vị trí Consul còn lại, theo quy định pháp luật La Mã, thuộc về Marcus Calpurnius Bibulus - một người thuộc phe Quý tộc.

Caesar tìm sự hậu thuẫn ở Gnaeus Pompeius Magnus (thường được gọi tắt là Pompey) - vị tướng quân bách thắng lừng lẫy nhất của La Mã vào thời điểm đó, cùng Marcus Linicius Crassus - người giàu nhất La Mã, cũng là người sau này dẹp tan cuộc khởi nghĩa Spartacus. Hai người đó rất ghét nhau, và đều vượt trội hơn Caesar về danh tiếng, nhưng bằng một cách nào đó, Caesar vẫn có thể dùng lợi ích gắn kết họ lại với nhau.     

Những đồng xu cổ in hình Caesar.

Tổng tài duy nhất

Crassus có tiền, Pompey có thực lực quân sự, và Caesar có khả năng chính trị. Họ là một tam giác bổ sung cho nhau hoàn hảo. Tính chất dân túy trong tư tưởng chính trị của Caesar thể hiện rõ ở dự luật phân phối lại đất công cho người nghèo - dự luật hiển nhiên bị phe Quý tộc xem là cái gai trong mắt, trái ngược với sự hoan nghênh hồ hởi của phe Đại chúng bình dân. Quan chấp chính đồng cấp - Bibulus - cố gắng gây khó dễ cho Ceasar, song thậm chí ông ta còn bị tấn công, xua đuổi và gần như bị vô hiệu hóa.

Vấn đề là, Pompey cũng thuộc phe Quý tộc, và Pompey càng ngày càng "bằng mặt không bằng lòng" với Caesar, đặc biệt là sau những chiến công vang dội mà Caesar thực hiện trong cuộc chinh phục xứ Gaul (gồm nước Pháp ngày nay, một phần nước Đức, phần lớn Thụy Sĩ và Bỉ), cũng như lần vượt biển đánh sang xứ Britain (Anh) hay tiến vào xứ Germany. Crassus khi đó đã tử trận trên đường chinh phục Ba Tư, và La Mã ở vào thế "một rừng hai cọp".

Năm 50 TCN, đại diện Viện Nguyên lão, Pompey yêu cầu Caesar giải tán quân đội và trở về La Mã, với lý do nhiệm kỳ tổng trấn của Caesar ở xứ Gaul đã kết thúc.

Ngày 10-1 năm 49 TCN, Caesar xua quân bản bộ vượt sông Rubicon trở về đất La Mã, chính thức phát động cuộc nội chiến nhằm tranh giành quyền lực. Vào thời điểm đó, ngoài ông, có lẽ không tướng lĩnh nào mạo hiểm "động binh" như vậy, bởi giới quân sự La Mã xem những ngày đầu xuân vẫn còn thuộc quãng thời gian khó hành quân nhất trong năm. Bởi vậy, phe Quý tộc đã bị bất ngờ, và không thể chống đỡ. Đến cả Pompey lừng lẫy cũng chỉ có thể chạy trốn cầu thoát thân. Để rồi sau đó, trong thế thắng như chẻ tre, Caesar thừa thắng truy đuổi tới tận Ai Cập, nơi Pompey bị ám sát bởi một số thủy thủ thuộc hạ, để rồi gặp mối tình huyền thoại cuối đời: Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra.

Vụ ám sát được kỳ vọng sẽ cứu vãn nền cộng hòa, nhưng thực tế lại đẩy nhanh hơn tiến trình La Mã thực sự có một hoàng đế.

Từ đó, Caesar trở thành Tổng tài duy nhất, mà thực chất đúng là một nhà độc tài trọn đời - Dictator, như một trong vô số danh hiệu kêu loảng xoảng được xưng tụng gắn liền với ông. Ông thậm chí không buồn đếm xỉa đến Viện Nguyên lão (có vai trò như một kiểu Quốc hội hay Nghị viện) nữa, mà toàn quyền đích thân bổ nhiệm các chức danh quan trọng. Ông lập chúc thư chỉ định những người kế vị. Và ông vẫn điều hành La Mã theo những xu hướng được phe Đại chúng bình dân yêu thích.

Hố sâu ngăn cách giữa Caesar cùng Viện Nguyên lão - nghĩa là phe Quý tộc thủ cựu càng lúc càng lớn. Kế hoạch ám sát ông được đề ra và thực hiện, như một điều phải đến. Các Libertatores cho rằng họ cần phải làm điều đó, để cứu vãn nền cộng hòa.

Song, sau khi Caesar ngã xuống dưới những nhát dao, mọi chuyện vẫn chẳng có gì thay đổi. Những lực lượng xã hội ủng hộ Caesar dễ dàng được đoàn ngũ hóa và sắp xếp lại dưới tay những thủ hạ của Caesar, tiêu biểu là Mark Anthony, để bẻ gãy mọi âm mưu quật khởi. Sau đó, cũng như người cậu - cha nuôi của mình, Octavianus lập nên Tam đầu chế thứ hai (với Mark Anthony và Lepidus - một cận tướng khác của Caesar), đánh bại quân đội phe đối lập, rồi lại đích thân triệt hạ Mark Anthony. Octavianus trở thành Augustus Đại đế - hoàng đế đầu tiên của La Mã. Nền cộng hòa bị xóa sổ. Caesar, từ một cái tên riêng, trở thành danh hiệu thiêng liêng gắn liền với tên của các bậc quân chủ.

So sánh là khập khiễng, nhưng dường như những gì diễn ra ở La Mã trước Công nguyên ấy cũng hoàn toàn có thể lặp lại ở một siêu cường hiện đại của thế kỷ XXI. Nhà Trắng đổi chủ, nhưng tâm trạng xã hội Mỹ có thực sự thay đổi hay không?

* Theo sử gia cổ đại Plutarchus, sau khi đâm chết Caesar, các Nguyên lão rời khỏi tòa nhà với sự phấn khích tột độ. Brutus, đứa con nuôi phản bội của Caesar góp mặt trong âm mưu ấy, còn hô lớn: "Hỡi nhân dân La Mã, một lần nữa chúng ta lại tự do".

* Mặc dù thuộc phe Quý tộc, và mặc dù cũng nhận danh hiệu Dictator, nhưng Sulla không hề hành xử giống như Caesar về sau. Sau hai năm chấp chính với quyền hành tuyệt đối, ông giải tán quân đội của mình, thiết lập lại chính quyền trực thuộc Viện Nguyên lão, bãi bỏ chế độ độc tài.

Đông Quân

Chỉ trong 2 ngày 17 – 18/2 (mùng 1 và mùng 2 Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026), quần thể di tích và danh thắng Chùa Hương, Hà Nội đã đón khoảng 25.000 lượt du khách về trẩy hội, du xuân. Riêng trong ngày 18/2, lượng khách tăng mạnh, ước tính khoảng 20.000 lượt.

Tại kỳ họp đặc biệt của Quốc hội Nhật Bản ngày 18/2, bà Sanae Takaichi đã được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản, sau chiến thắng áp đảo mang tính lịch sử của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền trong cuộc tổng tuyển cử 10 ngày trước đó. 

Giữa nắng gió khắc nghiệt của châu Phi, cán bộ, chiến sĩ Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Abyei vẫn đón Tết cổ truyền đậm đà bản sắc dân tộc. Xa quê hương hàng nghìn kilômét, họ vừa hoàn thành nhiệm vụ mở đường, kiến tạo hạ tầng, vừa lan tỏa hình ảnh người lính mũ nồi xanh Việt Nam bản lĩnh, nhân ái trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Trở thành điểm hẹn thường niên của khách du xuân đầu năm, Hội chữ Xuân năm Bính Ngọ 2026, Không gian Hồ Văn, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội thu hút đông đảo các bậc phụ huynh, bạn trẻ đến xin chữ, cầu công danh, may mắn trong các kỳ thi.

Nền kinh tế khép lại năm 2025 với những thành công từ nỗ lực vượt trội, mở ra một cánh cửa mới đầy khát vọng cho kỷ nguyên vươn mình. Kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài; mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi…

Giá vàng thế giới đã liên tục giảm trong mấy ngày gần đây, trong khi bảng giá vàng trong nước không có biến động do đang trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Bước sang ngày Mùng 2 Tết Bính Ngọ 2026, thị trường hàng hóa thiết yếu ghi nhận nhịp vận động tích cực hơn sau ngày đầu năm trầm lắng. Dù người dân vẫn ưu tiên các hoạt động du xuân, chúc Tết, lễ chùa và sum họp gia đình, nhu cầu mua sắm, đặc biệt là thực phẩm tươi sống, đã tăng trở lại so với Mùng 1.

Như rễ cây rừng trên đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ cắm sâu vào lòng đất, các cán bộ chiến sĩ CAND vẫn đang ngày ngày miệt mài “bám bản, bám dân” để xây dựng niềm tin yêu của lòng dân trên vùng biên viễn bằng chính những việc làm cụ thể.

Người Saka (hay Scyth) là những người du mục nói tiếng Iran cổ gốc ở Nam Siberia. Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên (TCN), họ di chuyển, chinh chiến khắp vùng thảo nguyên Âu - Á (hiện từ Biển Đen tới Mông Cổ).

Không chỉ là điểm tựa bình yên, động lực cho nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, lực lượng Công an xã tại tỉnh Sơn La cũng đã phát huy vai trò trong đấu tranh, phòng chống tội phạm. Bản ấm, dân yên, đời sống bản làng từng bước ổn định.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文