Tàu con thoi Discovery: 7 lần bay vào vũ trụ
Nhiệm vụ trọng đại
Tới đêm 17/3/2009, tàu Discovery đã được ghép với trạm vũ trụ quốc tế (IS). Trên tàu con thoi Discovery có 6 nhà du hành vũ trụ Mỹ (Lee Archambault, Tony Antonelli), John Phillips, Steve Swanson, Richard Arnold, Joseph Acaba) và nhà du hành vũ trụ người Nhật Koichi Wakata.
Tàu con thoi Discovery sẽ ở trong vũ trụ 8 ngày rồi trở về mặt đất vào ngày 28/3. Riêng nhà du hành vũ trụ người Nhật Wakata sẽ ở lại để thay thế nữ kỹ sư Sandra Magnus trong đội hình điều khiển ISS. Wakata là người Nhật đầu tiên có mặt trên ISS…
Theo chương trình, các nhà du hành vũ trụ sẽ thực hiện ba lần đi ra khoảng không vũ trụ và hoàn tất việc lắp những pin mặt trời cuối cùng cho trạm vũ trụ. Khi cất cánh, Discovery đã mang theo mình bộ pin mặt trời cuối cùng cần thiết cho IS. Nhờ thế tổng dung lượng pin mặt trời của IS đã tăng từ 90 lên 120 KW…
ISS cần thêm pin mặt trời vì trong thời gian sắp tới, nhu cầu điện năng ở đó sẽ gia tăng đột biến. Nhà du hành vũ trụ Nhật Bản Wakata với sự giúp đỡ của các phi hành gia khác sẽ phải hoàn thành việc triển khai tổ hợp phòng thí nghiệm Kibo. Ngoài ra, tới tháng 5/2009, thành phần đội điều khiển ISS sẽ tăng từ ba người lên 6 người. Để các cư dân tương lai trên ISS luôn luôn có nước sạch, đoàn bay của Discovery đã mang lên đó máy lọc nước tiểu của các phi hành gia thành nước sạch.
Trên tổ hợp phòng thí nghiệm Kibo sẽ tiến hành các thí nghiệm khác nhau. Thí dụ như thí nghiệm chế tạo tinh thể, trong đó có tinh thể prôtít… Kibo cũng được trang bị các lò nung để giúp tạo ra nhiệt độ gradian. Cũng ở trên Kibo, các nhà du hành vũ trụ sẽ nghiên cứu về trạng thái vật lý của các chất lỏng trong điều kiện vi môi trường.
Nhờ Kibo, các nhà khoa học dự định sẽ có thể nghiên cứu được các đặc tính trong hành tung của các cơ thể sống trong điều kiện không trọng lượng. Trong Kibo có một số máy ấp để sản sinh ra một số động vật và các tế bào thực vật. Để nghiên cứu các giống tế bào trong Kibo có một phòng vô trùng và ở trong đó có kính hiển vi huỳnh quang.
Để tiến hành các thi nghiệm với các cơ thể sống trong điều kiện ngoài vũ trụ trên Kibo có máy định phân giúp xác định mức độ phóng xạ. Một khoang đặc biệt trong phòng thí nghiệm Kibo được dành thí nghiệm với những sinh vật sống trong nước. Cụ thể, trên Kibo có các bể cá, trong đó không chỉ có các loại cá khác nhau mà cả các thực vật sống dưới nước. Mọi chỉ số của các máy thí nghiệm trên Kibo đều có thể được kiểm soát từ trái đất.
Nguyên tắc tổ hợp và số lượng lớn các khoang có thể thay thế lẫn nhau cho phép sử dụng Kibo vào rất nhiều thí nghiệm đa dạng, thậm chí cả những thí nghiệm không được xác định trước từ trái đất. Ngoài những thí nghiệm đã kể ở trên, các nhà phi hành vũ trụ sẽ sử dụng Kibo để nghiên cứu quá trình nóng lên toàn cầu, quan sát sự huỷ hoại tầng ôzôn của trái đất, tiến hành các thí nghiệm về y học vũ trụ, kỹ nghệ sinh học thông tin liên lạc.
Truân chuyên khởi hành
Lẽ ra, chuyến bay thứ bảy của tàu con thoi Discovery đã được thực hiện từ ngày 12/2/2009. Tuy nhiên, những cuộc kiểm tra khác nhau và việc khắc phục những sự cố trong hệ thống nhiên liệu của tàu đã buộc các kỹ sư phải hoãn đi hoãn lại ngày khởi hành.
Ngày 7/2/2009 trên website chính thức của NASA (Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ) xuất hiện thông báo về việc các chuyên gia phục vụ cho chuyến bay của Discovery sẽ không lắp kịp các van phun khinh khí vào thùng nhiên liệu bên ngoài đúng vào thời hạn 12/2.
Nảy sinh câu hỏi: Vì sao các kỹ sư lại tháo những chi tiết quan trọng như thế ra khỏi con tàu? Quyết định về việc tháo ra và kiểm tra toàn diện các van được thông qua sau khi phân tích chuyến bay vào vũ trụ trước đó của tàu con thoi Endeavour.
Quá trình kiểm tra cho thấy, một trong số các van đã bị hư hại nên lãnh đạo NASA quyết định phải kiểm tra thêm lần nữa và tạm thời rời thời điểm khởi hành của Discovery tới ngày 22/2. Thế nhưng, sau cuộc họp ngày 13/2, khi các chuyên gia đã phân tích kỹ lưỡng những dữ liệu về quá trình kiểm tra kỹ thuật con tàu và kết quả trên máy tính hệ lụy của những hỏng hóc có thể xảy ra, thời điểm khởi hành lại bị dịch chuyển "không sớm hơn 27/2/2009".
Tới ngày 21/2 lại xuất hiện thông báo rằng, sau 6 ngày nữa tàu Discovery chắc chắn sẽ chưa thể bay được, vì những thông tin chứng tỏ rằng tình trạng an toàn của nó để thực hiện chuyến bay vẫn chưa được thu thập đủ.
Tới ngày 26/2/2009, các kỹ sư đã bắt tay vào việc gỡ bỏ các van và lãnh đạo NASA ra thông báo rằng, theo những tính toán sơ bộ, tàu con thoi Discovery sẽ sẵn sàng bay vào ngày 12/3/2009. Dự tính rằng, trong thời gian hai tuần các kỹ sư của NASA sẽ kịp chụp hơn bốn nghìn bức ảnh của từng cái van một và xem xét kỹ lưỡng để phát hiện những sai lệch có thể có. Trên tàu con thoi Disovery lắp không chỉ những cái van riêng của nó mà cả những cái van đã từng được sử dụng ít lần hơn (các chi tiết của các tàu con thoi có thể lắp ghép lẫn vào nhau).
Ngày 6/3, sau khi nghe xong bản báo cáo về tình trạng sẵn sàng của con tàu, lãnh đạo chuyến bay của Discovery lại thông báo về ngày khởi hành mới: 11/3. Tất cả các quy trình chuẩn bị cho chuyến bay đều được thực hiện theo quy định và cho tới vài giờ trước thời điểm chuẩn bị cất cánh, đã có tới 500 nghìn gallon (bằng khoảng gần hai nghìn mét khối) khinh khí và khí ôxy lỏng được bơm vào các bình chứa nhiên liệu của con tàu.
Nhưng chỉ vài giờ sau đó đã lại có lệnh hoãn chuyến bay lại vì có hiện tượng chảy khinh khí lỏng trong đường ống dẫn lưu khi bơm nhiên liệu vào bình chứa bên ngoài. Đại diện NASA ngay lập tức lên tiếng rằng, việc chảy khinh khí lỏng như thế không liên quan gì tới việc kiểm tra các van mà vì thế, thời điểm bay lên của con tàu liên tục bị trì hoãn.
Từ ngày 12/3/2009 tại Trung tâm vũ trụ mang tên Kennedy đã tiến hành sửa chữa hệ thống bị hỏng hóc suốt cả ngày đêm. Trong những thông báo chính thức của NASA đã nhấn mạnh rằng, rất hy vọng là việc sửa chữa sẽ được hoàn tất trước ngày 15/3/2009, thời điểm cần phải phóng con tàu "đoạn trường" này vào vũ trụ.
Và cuối cùng thì mọi việc đều đã ổn thỏa. Tàu con thoi Discovery đã khởi hành vào buổi tối chủ nhật quang mây đúng hẹn một cách ngoạn mục. Chỉ có một sự cố nho nhỏ là con dơi đậu tìm hơi ấm trên vách thùng đựng nhiêu liệu bên ngoài của Discovery đã bị chết cháy khi con tàu này cất cánh…
NASA hiện nay đang xem xét khả năng kéo dài thời gian phục vụ của các tàu con thoi tới năm 2015. Theo một thông tin nội bộ bị để lọt lên mạng Internet, các chuyên gia NASA, tham gia chương trình SSP (Space Shuttle Program) đã nhận được yêu cầu đưa ra những đề nghị giúp kéo dài chương trình sử dụng các tàu con thoi.
Lãnh đạo NASA có đặt ra một số điều kiện. Thứ nhất, không thể chỉ đơn giản kéo dài thêm 5 năm khoảng thời gian 10 năm còn lại của chương trình. Thứ hai, không nhất thiết phải kéo dài thời gian sử dụng của tất cả các tàu con thoi đang làm việc, mà có thể chỉ kéo dài thời gian làm việc của một con tàu. Thứ ba, các chuyên gia không cần phải quá quan tâm tới chi phí cho việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu con thoi.
Hiện nay NASA có ba tàu con thoi: Atlantis, Endeavour và Discovery. Trước đây đã có kế hoạch về việc những chuyến bay cuối cùng của ba tàu con thoi này sẽ được tiến hành vào năm 2010. Và nếu làm đúng như thế thì từ đó tới năm 2015, NASA sẽ không có tàu để đưa các nhà du hành vũ trụ lên ISS.
Thêm vào đó, việc thử nghiệm các tàu vũ trụ Orion thay thế cho các tàu con thoi hiện có liên tục vấp phải những trục trặc, khiến cho cho viễn cảnh tới năm 2015, NASA có được một phương tiện giao thông vũ trụ thích đáng càng trở nên mù mịt. Trong tình huống đó, có kế hoạch sẽ sử dụng các tàu vũ trụ Soyuz của Nga để thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, mối quan hệ Nga - Mỹ không phải lúc nào cũng suôn sẻ, buộc NASA phải "quân tử phòng thân"…