Chiếc kính thiên lý
Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.
Phục vụ phòng thủ
Bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” do quốc sử quán triều Nguyễn cho biết, ở cửa ải Hải Vân, nằm giữa phủ Thừa Thiên và trấn Quảng Nam, được lập ra từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826), “có quân lính canh giữ, có kính thiên lý để chiếu trông ra ngoài biển”. Hay, cửa Thuận An ở địa phận huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, nơi sông Hương đổ ra phá Tam Giang, năm Minh Mạng thứ 15 (1834) dựng vọng lâu ở trấn sở, “có kính thiên lý để dò xét tàu thuyền ngoài khơi”.
Tuy nhiên, trước khi dựng vọng lâu, ở cửa Thuận An đã có pháo đài để phòng thủ, gọi là Trấn Hải đài. Ở đây đã được cấp kính thiên lý. Theo bộ sử “Đại Nam thực lục”, năm Minh Mạng thứ 6 (1825), ở cửa biển Thuận An có thuyền công trở về, thủ ngự Ngô Văn Quyền nhận lầm là thuyền Tây dương (tức các nước châu Âu), liền đem tin cấp báo về Bộ Binh.
Nhà vua biết tin báo giả, nổi giận phán rằng: “Các cửa biển nhà nước đã cấp cho thiên lý kính để trông rõ ngoài xa, sao lại lầm lẫn như thế!”. Sau đó, vua liền sai thị vệ đến Trấn Hải đài, bắt Ngô Văn Quyền đánh trượng để phạt. Để khắc phục việc lầm lẫn, Vua Minh Mạng cũng sắc cho Bộ Công truyền chỉ từ sau nên lấy kính thiên lý mà nhìn cho rõ ràng, tùy việc chuyển báo, nếu lại còn lầm tất trị tội nặng. “Việc quan hệ đến quân cơ thì lấy quân pháp trị tội”, vua răn như vậy.
Đến mùa hạ năm Minh Mạng thứ 15 (1834), triều Nguyễn ban hành quy định về lệ trông coi tuần thám và kéo cờ thuyền công ở 2 tấn sở (đồn có pháo đài nhỏ) thuộc cửa biển Thuận An, Đà Nẵng. Ở mỗi tấn sở này đều dựng một chòi canh cao trên dưới 3 trượng, dùng ống kính thiên lý nhòm ra ngoài khơi, nếu thấy cờ hiệu hoặc dáng thuyền không phải của nước ta, mà đi thành đoàn từ 3 chiếc trở lên, thì một mặt báo về Bộ Binh, một mặt đến tận nơi xét hỏi căn do kỹ càng, rồi tiếp tục báo thêm.
Để phân biệt thuyền trong nước và nước ngoài, triều Nguyễn cũng định rõ là phàm các hạng thuyền công được sai phái khi đi biển, gặp thuyền quan hoặc thuyền ngoại quốc, hay khi đến gần những tấn sở các hạt, hay khi ra vào cửa biển, thì các hạng thuyền hiệu bọc đồng phải treo cờ phướn ở trên cột buồm ở giữa và cờ đại vuông ở đằng lái, đều dùng cờ sắc vàng. Còn các thuyền khác đều treo cờ đại vuông ở lái để dễ nhận.
Tuy nhiên, dù có kính thiên lý, việc nhìn nhầm màu cờ vẫn xảy ra. Mùa hạ năm Minh Mạng thứ 16 (1835), thuyền buôn của Pháp đến cửa biển Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Khi mới đến vụng Trà Sơn, thuyền của họ thả neo, kéo cờ trắng của nước ấy làm hiệu. Nhưng, binh lính ở cửa ải Hải Vân nhầm tưởng là cờ hiệu thuyền của Thủy sư ta, sắc vàng lờ mờ, nên đem việc tâu lên. Nhà vua lại ra dụ rằng: “Phòng tấn ở ải Hải Vân được đặt ra, là cốt để trông coi thuyền tàu ở ngoài biển. Lại kính thiên lý được ban phát là để dùng trông xa cho rõ mà lại xem xét không đúng như thế. Vậy, những người đóng lâu ở tấn sở ấy đều phải đánh ngay 100 trượng, đóng gông 10 ngày”.
Sau đó Vua Minh Mạng cũng chuẩn định rằng: từ đó về sau, khi cử binh lính thay phiên trấn thủ phải chọn người quen ngắm kính thiên lý mà phái đi. Nếu lại lầm lẫn, thì quan cai quản cũng bị giao xuống nghị xử. Đồng thời, cũng quy đình rằng binh đóng giữ ở cửa ải, cứ mỗi tháng 2 lần, đem kính thiên lý ấy lau cho sáng. Ai trái lệnh, sẽ bị đánh 80 trượng. Ai làm mờ tối, hư hỏng và khi dùng nhìn ngắm không đúng thì phạt thêm lên 2 bậc, đánh 100 trượng. Nếu gặp việc tâu báo quan trọng mà đến sơ sót, sai lầm thì lại khép vào tội nặng. Tấn sở ở cửa Đà Nẵng cũng chiếu lệ này thi hành.
Năm sau (1836), Vua Minh Mạng cũng sai phát 3 ống kính thiên lý cho thủy quân, để khi được phái đi đường biển và ra tuần tiễu ngoài khơi thì đem theo để nhòm ngắm.
Dùng cho tác chiến trên bộ
Không chỉ dùng cho phòng thủ bờ biển và thủy quân, Vua Minh Mạng còn phân phối kính thiên lý cho các đạo bộ binh. Ý kiến của Vua Minh Mạng về việc sử dụng kính thiên lý cho quân bộ được ghi trong bộ “Đại Nam thực lục”, khi cử các lộ quân đánh bọn thổ phỉ Quách Tất Công, Quách Tất Tại nổi loạn ở phủ Thiên Quan, Ninh Bình như sau: “Vua lại cho rằng, khi hành quân lên cao, nhìn xa, không gì bằng thiên lý kính”. Đó là sự kiện diễn ra vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 14 (1833). Sau đó, vua sai thị vệ mang cấp cho các lãnh binh ở 3 lộ mỗi người 1 chiếc kính thiên lý.
Sau đó, khi nhà vua sai Tổng đốc An - Tĩnh (cai quản 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) là Tạ Quang Cự đem đại đội quân và voi gấp đến địa phương Thiên Quan và Chi Nê, hội quân cùng Phạm Văn Lý, Phạm Văn Điển và Nguyễn Đăng Huyên truy quét hết giặc phỉ, cũng đã sai cấp cho các tướng này mỗi người 1 chiếc thiên lý kính.
Việc Vua Minh Mạng cấp kính thiên lý cho các đạo quân liên tiếp diễn ra trong các năm tiếp theo. Sử triều Nguyễn cho biết, mùa hạ năm 1833, nhà vua sai thị vệ mang cấp cho các tướng ở miền Nam là Phan Văn Thúy, Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương và Lê Phước Bảo mỗi người 1 chiếc thiên lý kính. Năm 1835, triều đình cấp cho 2 tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên mỗi tỉnh 1 ống thiên lý kính, “để đem theo trong quân dùng để nhìn xa”. Mùa đông năm 1835, lại “cấp cho các tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Gia Định, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Yên, mỗi tỉnh 1 chiếc kính thiên lý”.
Áp dụng khi vây thành Phiên An
Trong chiến dịch dẹp cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi ở thành Phiên An (Sài Gòn) từ năm 1833 đến 1835, mỗi đạo quân được cử đi đều được cấp kính thiên lý cùng các loại vũ khí. Vua Minh Mạng dụ rằng: “Nay tìm cách đánh thành là việc rất khẩn thiết! Vậy ở 4 mặt sau lũy đều dựng một cái chòi vọng địch, cao ước 3 trượng, hằng ngày sai người mang kính thiên lý lên chòi nhòm vào trong thành, để xem tình hình hư thực của giặc.
Còn ở trong lũy thì tuân theo dụ trước, mỗi lũy đắp một ụ đất cao ước hơn 15 thước, có thể nhòm vào trong thành được, tức thì kéo đại bác lên để trên ụ, hễ người đứng nhòm chỉ cho chỗ giặc tụ đông, tức thì sai người bắn giỏi, nhằm bắn ra, thì giặc không chỗ ẩn tránh được”.
Chiến thuật này tỏ ra có tác dụng, nên Vua Minh Mạng còn “ban cấp cho thiên lý kính loại to” để chỉ dẫn pháo binh bắn cho chính xác hơn. Các quân phải “sai người tài ngắm mang kính ấy lên chòi, trông ngắm vào trong thành xem chỗ nào bọn giặc tụ đông và ở đâu là nhà kho thuốc đạn, thì chỉ ngay cho pháo thủ đối chiếu phương hướng để bắn, cốt sao cho trúng”.
Khi quân triều đình chuyển sang phương thức bắn đạn nổ (chấn địa lôi) vào thành Phiên An, Vua Minh Mạng cũng chỉ đạo sâu sát: “Khi nào bắn, thì sai người mang thiên lý kính lên chòi vọng địch để xem, viên đạn nào xịt, thuốc không nổ, hoặc vỡ ở trong khoảng không mà rơi xuống, thì đem người chế tạo và người điểm phóng ra trừng trị; viên đạn nào bắn vào thành, rơi xuống đất nổ ngay, thì mỗi viên đạn được thưởng 1 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Hoặc, có đốt phá được nhà cửa trong thành và làm bọn giặc bị thương, sẽ tùy theo nhẹ nặng, chước lượng khen thưởng”. Theo lời của Vua Minh Mạng thì kính thiên lý hạng lớn này “có thể nhòm được trên tầng mây, huống chi chỉ gần trong vài dặm”.
Làm phần thưởng
Bên cạnh việc cấp cho các đồn tấn biên phòng, Vua Minh Mạng cũng hay ban thưởng kính thiên lý cho các tướng có công. Đó đều là những ống kính mạ bạc sang trọng. “Đại Nam thực lục” cũng cho biết, mùa đông năm Minh Mạng thứ 2 (1821), viên Trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Hiếu làm quan có thành tích. Vua xuống dụ khen ngợi, thưởng cho một cấp “trác dị” (cấp thưởng “lỗi lạc đặc biệt”) và ban cho một ống kính thiên lý Tây mạ bạc, một thanh gươm chạm mạ vàng và một khẩu súng chữ vàng.
Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 4, (1823) ở Bắc Thành có giặc Nguyễn Đức Khoa nổi lên cướp phá ở miền Hải Dương, Bắc Ninh. Các quan Bắc thành sai Chưởng cơ Tiền quân là Vũ Văn Lương quản lĩnh binh và voi đi đánh, bắt sống được tên Khoa và đồ đảng hơn 60 người, chém được hơn 120 đầu, bắt được cờ, trống, khí giới rất nhiều. Sự trạng được tâu về triều, nhà vua dụ khen, thưởng cho Vũ Văn Lương quân công gia 1 cấp, 1 tấm sa mãng lan (thứ sa thêu rồng 4 móng), 1 súng tay Tây dương nạm vàng, 1 kính thiên lý mạ bạc.