Con đường trở thành "đại gia"
Trung sinh năm Bính Ngọ (1966) và là con thứ 6 trong một gia đình nông dân nghèo có tới 9 người con ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Nhà có 6 anh em trai, 3 chị em gái, bố lại mất sớm, cho nên cuộc sống gia đình trông vào mấy sào ruộng thường quanh năm khốn khó.
Nhà Trung có bà chị cả ra Quảng Ninh lập nghiệp từ trẻ. Bà làm công nhân Sở Điện lực Quảng Ninh và lấy chồng là bộ đội, đóng quân ở gần khu Cọc 8. Khi Trung đang học lớp 4 thì bà chị sinh cháu thứ 3. Nhà neo người quá, chị gọi Trung ra Quảng Ninh bế cháu. Là công nhân điện, nhưng chị lại có nghề tay trái làm bánh chưng, bánh rán.
Ở nhà chị, Đỗ Thành Trung vừa trông cháu, vừa đi học, và vừa đi giao bánh, bán bánh... Khi nhớ lại những tháng năm cơ cực này, Trung nói với tôi: "Chính những ngày nhặt từng hào từ tiền bán bánh rán, bánh chưng đã giúp tôi cách kiếm tiền và biết cách tiêu tiền. Đối với tôi, khi không cần thiết thì một đồng cũng phải tiết kiệm, nhưng khi phải chi, thì tiền... tấn cũng không được băn khoăn”.
Năm 1981, học hết lớp 6 thì Trung lại trở về quê để học lớp 7, nhưng phải vào trường vừa học vừa làm ở vùng cói huyện Kim Sơn. Học được một năm, thấy khổ quá và tương lai thì mù mịt, vậy là Trung bỏ học về nhà.
Đến năm 1983, có một đơn vị của Sư đoàn 369 về Ninh Bình tuyển quân. Sư đoàn này đóng ở Quảng Ninh và lại ở gần nhà bà chị, cho nên một số cán bộ sư đoàn khi ra quán ăn bánh cũng biết Trung và nay họ còn nhớ...
Vậy là Trung xung phong đi bộ đội mặc dù lúc đó mới 17 tuổi. Để đủ tuổi đi bộ đội, Trung lên Ủy ban xin khai lại năm sinh. Khi ông cán bộ ủy ban hỏi sinh năm nào, Trung không kịp suy nghĩ và nói ngay rằng sinh năm 1964. Vậy là Trung được gọi nhập ngũ, vào Sư đoàn 369 và về đóng quân ngay gần nhà chị cả.
Qua ba tháng huấn luyện, thấy Trung nhanh nhẹn, chăm chỉ, chịu khó tăng gia, đơn vị đưa Trung lên làm công vụ cho đồng chí Tiểu đoàn trưởng. Nhưng cũng chỉ được vài tháng, thấy Trung mê ôtô, đơn vị đồng ý cho anh đi học khóa lái xe 9 tháng. Năm 1985, Trung lái xe Gat 53 cho Phòng Hậu cần sư đoàn và chuyên đi chở lương thực, thực phẩm. Năm 1986, Trung được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuối năm 1987, Phòng Hậu cần sư đoàn nhận về 10 tân binh nữ và Trung yêu ngay một cô rồi cưới luôn. Hai vợ chồng được sắp xếp ở trong doanh trại và đến năm 1989, họ có đứa con trai đầu lòng.
Thấy ở mãi trong quân ngũ, mà quanh đi quẩn lại chỉ làm mỗi nghề lái xe, Trung cũng không "sướng" lắm. Vậy là anh làm đơn xin ra khỏi quân ngũ để về làm kinh tế. Khi vợ anh hết nghĩa vụ, hai vợ chồng mua một mảnh đất trên khu đồi gần đơn vị và dựng túp lều để ở.
Ra khỏi quân ngũ, lúc đầu, Trung cũng thấy bâng khuâng và một trong những điều áy náy nhất của anh đó là việc sinh hoạt Đảng. Mặc dù anh đã chuyển hồ sơ đảng viên về sinh hoạt tại Chi bộ của phường, nhưng Trung cứ cảm thấy giả dối thế nào ấy khi mà mình đi làm kinh tế theo kiểu "buôn bán, mánh mung". Mà làm ăn kiểu này, không khéo có ngày "vào kho", thì chỉ làm xấu Đảng, thế là Trung viết đơn xin ra khỏi Đảng.
Cũng vào những năm này, cả vùng mỏ Quảng Ninh sôi sục lên nạn khai thác than thổ phỉ và người ta đua nhau làm than xuất khẩu. Suốt dọc bờ biển vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, chỗ nào có thể đưa thuyền vào cập bến là nơi đó thành "cảng" xuất than.
![]() |
| Khu đổ đất đá thải để tận thu than. |
Đỗ Thành Trung cũng lao vào cơn sốt khai thác than thổ phỉ, tất nhiên, lúc đầu, anh chẳng có vốn liếng gì mà chỉ lo đi kiếm việc làm thuê. Một lần về đơn vị cũ chơi, Trung nghe nói đang có một chiếc xe Zin157 đã hết hạn sử dụng đang chuẩn bị bán thanh lý. Trung vội vàng xin mua lại với giá 2 triệu đồng và bắt đầu “sự nghiệp chở than thuê”. Được vài tháng, kiếm được chút vốn, Trung thuê người khác lái, còn mình lao đi mở bến bãi, mua gom than để xuất khẩu.
Những ngày này đối với Trung quả là một cuộc chiến khốc liệt. Để có được uy tín với cả người bán lẫn người mua thật không đơn giản và tất nhiên, không mưu mẹo, quyền biến thì chắc chắn không có chỗ đứng ở bất cứ bến bãi nào. Chỉ trong một năm, tên tuổi của Trung "con" bắt đầu được biết đến trong giới khai thác “than... đen”. Kiếm được tiền, Trung bắt đầu chủ quan và cho khách hàng nợ nần quá nhiều.
Sang năm 1992, hàng loạt khách hàng "bùng", thế là toàn bộ cơ nghiệp gây dựng được trong mấy năm trời như nhà cửa, xe vận tải... trị giá gần tỉ đồng phút chốc mất sạch. Không nhà cửa, không còn một đồng vốn, Trung và vợ ôm con về ở nhờ nhà ông anh.
Bị thương trường cho cú đấm nốc-ao, mãi đến 3 tháng sau Trung mới gượng dậy được. Anh gạt nước mắt từ giã vợ con đi lái xe thuê cho một ông chủ vận tải với lương là 500 ngàn đồng/tháng. Lái xe được 3 tháng thì ông chủ thay đổi “tư duy kinh tế” và muốn “cưa” đôi xe, mỗi bên 50%. Trung đồng ý ngay và đi vay mượn tiền góp vốn với ông. Lại thêm vài tháng nữa, Trung chắt bóp được hơn chục triệu và đi thuê người khác lái.
Nghe nói đơn vị cũ đang cho thuê xe tải, Trung về xin thuê một chiếc xe, hàng tháng trả 2 triệu đồng. Thấy Trung trả tiền sòng phẳng và lại có ý thức giữ xe tốt, đơn vị cho thuê thêm... 10 xe nữa. Với số xe này, Trung lại "tung hoành" trên các bến bãi. Xe biển đỏ mang đi chở than thuê thì "nhất" còn gì, chả công an, chả thuế vụ nào dám động đến.
Hơn nữa vào những năm đó, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, cả quân đội, cả công an đua nhau làm kinh tế bằng đủ mọi cách, cho nên việc đưa xe công cho tư nhân chạy để kiếm tiền thì nơi nào chả có.
Một năm sau, Trung lại có số vốn được hơn 200 triệu đồng và lại trở thành kẻ có "máu mặt". Lúc này, số xe của đơn vị đã cũ nát nên uống xăng như gã nghiện bia, cho nên lãi lời chả đáng là bao. Trung quyết định đi mua... xe Nhật "xi-cơn-hen" về. Xe của Nhật, tuy đã cũ, nhưng so với những xe rách nát của Liên Xô, Trung Quốc thì còn hơn chán vạn. Có được đồng lãi nào, Trung dồn vào mua xe và đến cuối năm 1994 đã có 20 đầu xe và dư ra được hơn 300 triệu.
Sang năm 1995, có tiềm lực tài chính rồi, Trung quyết định “làm ăn lớn” là mở bến xuất khẩu và tổ chức sàng tuyển thủ công. Làm cách này, Trung phải mua than tận gốc và bán tận ngọn... Đã có lúc, Trung thuê đến 300 người sàng tuyển than suốt ngày đêm mà vẫn không đủ hàng xuất đi - mà chủ yếu là sang Trung Quốc.
Cuối năm 1995, khi "phong trào" khai thác than "thổ phỉ" đang “phát triển” đến đỉnh cao thì Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt lệnh cho chính quyền tỉnh Quảng Ninh cùng các lực lượng công an, quân đội phải dẹp cho được nạn khai thác than trái phép này. Lệnh của Thủ tướng ngay lập tức được các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ninh thực thi, tuy có “túc tắc” nhưng cũng đã ngăn chặn được nạn khai thác than thổ phỉ.
Qua thực tế vật lộn trên thương trường, Trung nhận ra rằng nếu "danh không chính thì... ngôn không thuận" và hơn nữa cái con dấu đỏ bao giờ cũng có giá trị lớn hơn mọi lời nói suông. Trung quyết định thành lập công ty với cái tên rất chi là dài dòng văn tự "Công ty TNHH Hỗ trợ và Phát triển hàng Công nghiệp Quảng Ninh", số vốn ban đầu là 600 triệu đồng. Vào thời đó, một công ty tư nhân mà có vốn pháp định như vậy cũng là "oách" lắm rồi.
Công ty do Trung làm giám đốc và là công ty tư nhân đầu tiên ở Quảng Ninh. Trung thành lập công ty xong thì cũng vào lúc các nhóm than thổ phỉ bị xóa sổ. Lúc này, chỉ có các đơn vị kinh tế tư cách pháp nhân mới được chính quyền cho phép hoạt động kinh doanh xuất khẩu than. Công ty của Trung được ưu đãi cho thuê bến bãi giúp cho công việc làm ăn phát triển với tốc độ chóng mặt.--PageBreak--
Trong vòng 6 năm, từ số vốn ban đầu 600 triệu, đến năm 2002, khi chuyển sang công ty cổ phần, Trung đã có số vốn 300 tỉ. Từ năm 2002 đến 2007, công ty phát triển mạnh mẽ và tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau: sản xuất than, sản xuất kính dân dụng, vận chuyển, chế biến than, làm môi trường đô thị; xây dựng lò hỏa thiêu và công viên nghĩa trang...
Đến năm 2007, công ty đổi tên thành "Tập đoàn Indevco" có 10 đơn vị thành viên gồm 8 công ty cổ phần, trong đó có 3 công ty cổ phần với Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam; có 1 Tổng công ty An Lạc Viên với hơn 500 công nhân làm nhiệm vụ dọn rác toàn bộ cho khu vực TP Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và trông nom khu công viên nghĩa trang có 3 lò hỏa thiêu...
Hiện nay, toàn Tập đoàn có 3.000 công nhân, một Đảng bộ với 130 đảng viên sinh hoạt tại 8 chi bộ. Đỗ Thành Trung là Bí thư Đảng ủy. Ngoài việc thực hiện các nghĩa vụ của một doanh nghiệp đối với Nhà nước, Indevco còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội từ thiện do tỉnh tổ chức. Năm 2007, Đỗ Thành Trung đã chi hơn 1 tỉ đồng cho các hoạt động này.
Như trên đã nói là khi ra ngoài làm kinh tế, Trung xin ra khỏi Đảng, vậy việc anh trở lại Đảng là thế nào? Và vì sao một người như Trung - một giám đốc doanh nghiệp tư nhân lại được kết nạp Đảng vào năm 2001, khi mà đảng viên còn chưa được làm kinh tế tư nhân? Đúng là chuyện Đỗ Thành Trung được vào Đảng có lẽ là độc nhất vô nhị vào thời điểm đó, và đây là thể hiện sự đổi mới trong việc đánh giá vai trò của đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Vào cuối năm 1998, khi đó, công ty của Trung đã trở thành một doanh nghiệp mạnh ở Quảng Ninh. Công ty đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ đối với Nhà nước, tiền thuế không thiếu một xu, đời sống của người lao động trong công ty thuộc loại cao nhất tỉnh...
Trong công ty có một số người đang công tác tại các cơ quan Nhà nước chuyển về và có không ít đảng viên. Chính từ những đảng viên này mà Đỗ Thành Trung lại thấy "nhớ" Đảng... nhớ lại những buổi sinh hoạt Đảng ở trong quân đội, rồi đối chiếu những việc mình đang làm với phẩm chất của người đảng viên thì tự thấy... cần phải xin vào Đảng. Thế là Đỗ Thành Trung làm đơn xin vào Đảng và gửi Thị ủy Cẩm Phả.
Nhận được đơn xin vào Đảng của Trung, các đồng chí trong Thị ủy rất băn khoăn. Về phẩm chất đạo đức, về năng lực và về những đóng góp của Đỗ Thành Trung cho xã hội thì rõ ràng là đáng ghi nhận. Đảng đang cần những con người như vậy. Nhưng đối chiếu với tiêu chuẩn thì Trung lại đang thuộc thành phần "kinh tế tư nhân" - mà ông chủ của kinh tế tư nhân có nghĩa là... bóc lột. Đảng viên thì không được bóc lột...
Rồi 19 điều cấm đảng viên đã được ban hành, trong đó có cấm làm kinh tế tư nhân... Thị ủy Cẩm Phả rất muốn kết nạp Trung vào Đảng, nhưng không dám quyết. Thế là Thị ủy làm công văn xin ý kiến Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Ban Tổ chức Tỉnh ủy cũng không dám quyết, bèn xin ý kiến Ban Tổ chức Trung ương.
Và phải đến 2 năm sau, vào ngày 6/7/2001, đồng chí Lê Quang Thưởng, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương mới có Văn bản số 272 trả lời Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh.
Trong công văn nêu rõ: "Đại hội IX cũng đã tán thành chủ trương "Tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tế thế nào là tư bản tư nhân và các biểu hiện bóc lột hiện nay để có quy định cụ thể về mức độ hoạt động kinh tế của người đảng viên một cách đúng đắn".
Với những điều trình bày như trên, chúng tôi đề nghị:
- Các đồng chí cùng tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan hữu quan để xây dựng đề án trình Ban Bí thư và Bộ Chính trị xem xét vấn đề kết nạp đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân cho thật đúng đắn, sát hợp...
Tuy nhiên, nếu các đồng chí xác định rõ ở địa phương có những quần chúng tốt là chủ doanh nghiệp tư nhân loại nhỏ và vừa, chưa phải là doanh nghiệp lớn có phẩm chất chính trị tốt, chấp hành nghiêm túc đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đối xử tốt với người lao động, được quần chúng trong doanh nghiệp và nhân dân địa phương đồng tình thì có thể hướng dẫn chi bộ doanh nghiệp làm thủ tục đề nghị với cấp ủy huyện và tỉnh xem xét kết nạp họ vào Đảng".
Có văn bản này, Thị ủy Cẩm Phả coi như có "cây gậy" và cuối năm 2001, Đỗ Thành Trung được kết nạp Đảng... Và 4 năm sau, vào năm 2005, khi thành lập Đảng bộ của Tổng công ty, cũng là Đảng bộ đầu tiên trong khối doanh nghiệp tư nhân ở Quảng Ninh, Đỗ Thành Trung được bầu làm Bí thư Đảng ủy.
Từ khi có Đảng bộ, Tập đoàn Indevco như có thêm sức sống mới. Người lao động trong Tập đoàn thấy yên tâm hơn hẳn bởi họ được làm việc trong môi trường "hệt như Nhà nước": có lương cao, được đóng đầy đủ các loại bảo hiểm, được sinh hoạt trong các tổ chức đoàn thể...
Những điều đó khiến họ xóa hết được nỗi mặc cảm tự ti của những người thường bị xã hội coi là kẻ làm thuê cho một ông chủ
(Còn nữa)
