Xuất xứ của cách gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài

18:40 14/10/2010
Liên quan đến vấn đề này, GS Nguyễn Tài Cẩn có viết bài "Về việc dùng hai động từ "vào" "ra" để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc", ban đầu in trong Tạp chí Khoa học số 4/91 của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó in lại trong “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa” (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001).

Ngược với ý kiến cho rằng Đàng Trong, Đàng Ngoài là nguyên nhân đưa đến lối nói vào Nam, ra Bắc, GS Nguyễn Tài Cẩn đã có công phát hiện những cứ liệu chứng minh điều ngược lại và những cứ liệu này, như ông đã chứng minh, chậm nhất cũng đã có từ đầu thế kỷ XV.

Sau đây là những chứng cứ mà GS đã đưa ra.

1. Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu đời Lê), động từ nhập đã được dùng để chỉ việc đi vào Nam: "Trần Thái Tôn mệnh thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải NHẬP ngự Nguyên nhân vu Nghệ An" (= Vua Trần Thái Tôn hạ lệnh cho Thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải VÀO chặn đánh quân Nguyên ở Nghệ An).

2. Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của một tác giả tự xưng là "nhà nho đỗ thi hương, họ Đỗ Bá, hiệu Đạo Phủ, quê ở Bích Triều, Thanh Giang" cũng đã có những câu dùng XUẤT, NHẬP, NGOẠI liên quan đến hướng Nam Bắc như vậy: - "Như tự Cửa Lạc Việt, NHẬP, nghi thu đông, XUẤT nghi xuân hạ" (=  Nếu từ Cửa Lạc vượt biển để VÀO thì phải đi trong mùa thu hay mùa đông, để RA thì phải đi trong mùa xuân hay mùa hạ). - "Tự Lại doanh XUẤT chí Kinh nhà Hồ... Tự NGOẠI NHẬP chí Tam Độ" (= Từ doanh Lại RA đến Kinh nhà Hồ... Từ NGOÀI mà VÀO đến Tam Độ).

3. Hơn nữa có chỗ văn bản vừa dùng câu chữ Hán có XUẤT, NHẬP vừa dùng câu Nôm có RA, VÀO để giải thích cho nhau: - "Tự Cầu Ngạn NHẬP tắc xanh thuyền diên Thạch Hà biên, XUẤT tắc xanh thuyền diên Thiên Lộc biên, tục vân VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC" (Từ Cầu Ngạn mà VÀO thì phải chèo thuyền ven theo bên Thạch Hà, mà RA thì phải chèo thuyền ven theo bên Thiên Lộc, có câu tục ngữ rằng: VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC).

Trở lên là những cứ liệu mà GS Nguyễn Tài Cẩn đưa ra để khẳng định rằng, chính lối nói VÀO NAM, RA BẮC đã đưa đến cách gọi ĐÀNG TRONG, ĐÀNG NGOÀI chứ không phải là ngược lại và về mặt này thì chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nhưng tất cả chỉ có thể chứ những điểm sau đây trong lập luận của ông thì chúng tôi cho là cần phải được xét lại. Ông chủ trương:

1. Chắc trước tiên phải có những câu nói cụ thể ở từng địa phương nhỏ, phản ánh đúng sự đi lại tùy theo địa hình từng vùng rồi sau đó mới hình thành những câu nói chung hơn như xuống Đông lên Đoài, ra Bắc vào Nam, chứ không phải là trước tiên có những công thức khái quát dựa trên địa lý toàn quốc rồi mới đem ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ.

2. Lối nói vào Nam - ra Bắc đã có từ thời Nguyễn Trãi. Vậy nó phải sản sinh trên cơ sở những lối nói về việc đi lại trên địa bàn Việt Nam khoảng thời gian trước đó, tức khoảng đầu thế kỷ XV về trước. Thời gian này, như cứ liệu lịch sử cho biết, lãnh thổ Việt Nam mới bao gồm vùng Bắc Bộ và giải đất từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên.

3. Đi vào nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng mà dùng vào, vào trong..., đi ra nơi rộng thoáng, mở mang mà dùng ra, ra ngoài..., điều đó hoàn toàn không có gì xa lạ với những lối nói quen thuộc như vào ngõ, vào cổng, vào trong hang, vào trong rừng/ra khơi, ra đồng, ra ngoài sân, ra ngoài bãi...

4. Nhưng do một sự tình cờ của địa lý, giải đất hẹp, bí hiểm vùng biên giới lại ở phía Nam, chỗ đồng bằng rộng thoáng, mở mang lại ở phía Bắc, cho nên những lối nói có vào/ra như trên lại ngẫu nhiên mang thêm một nét nội dung mới: nói vào một địa điểm X là nói đi về phía Nam hơn, so với đồng bằng Bắc Bộ; và nói ra một địa điểm Y là nói đi về phía Bắc hơn, so với các vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.

Chúng tôi thì nghĩ khác hẳn GS Nguyễn Tài Cẩn về cái hướng để giải quyết vấn đề này; mà ngay trong từng điểm cụ thể thì luận cứ của ông cũng chẳng vững chắc chút nào. Về điểm 1, ngược với ông, chúng tôi nghĩ rằng chính những công thức khái quát (vào Nam, ra Bắc) dựa trên địa lý khu vực duyên hải biển Đông (từ Giao Chỉ vào Cửu Chân, từ Cửu Chân vào Nhật Nam, và cứ thế mà dần dần Nam tiến...), chứ không phải chỉ toàn quốc (Việt Nam), đã được ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ. Về điểm 2, chúng tôi cho rằng lối nói vào Nam/ra Bắc đã có mặt từ trước đầu thế kỷ XV khá xa, có thể đến năm, ba thế kỷ là thường vì công cuộc Nam tiến không những diễn ra liên tục, mà còn từ rất sớm nữa là đằng khác.

Hà Nội cuối thế kỷ XIX.

Chính GS cũng đã phải thừa nhận: "Theo tài liệu lịch sử, có những đợt di dân như năm 1075, 1042,... những đợt vận chuyển lương thực như năm 1376, và những đợt kéo quân vào tập luyện, đánh Chiêm Thành (1104, 1252, 1311, 1318, 1353, 1367, 1376-1377, 1383, 1402, 1403,...)"  (Sđd, tr.128, chth. 8). Về điểm thứ 3, khi ta nói, chẳng hạn, "Đến bốn giờ chiều hôm đó thì đại đội X mới ra khỏi cánh rừng Y mà vào thành phố Z", thì có lẽ nào thành phố lại là nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng? Huống chi, vào trong hang tuyệt đối chẳng khác gì vào trong cung điện, vào trong công viên nước, vào trong thảo cầm viên, vào trong vườn Tao Đàn, vào trong khu ăn chơi Las Vegas, v.v... cả về nghĩa lẫn ngữ dụng của vị từ VÀO. Cuối cùng thì, với chúng tôi, sự việc đã diễn ra một cách hoàn toàn độc lập đối với điểm thứ 4 của GS Nguyễn Tài Cẩn.

Với chúng tôi thì vấn đề không phải ở chỗ địa bàn rộng hay hẹp; địa thế kín hay hở; môi trường bí hiểm hay mở mang; v.v... mà là vấn đề lập trường, nghĩa là chỗ đứng để định hướng, nói rõ ra là chuyện địa bàn dân tộc. Nó na ná chuyện cái tên Hà Nội của Tàu mà chúng tôi đã nói trước đó. Địa danh này được từ điển Từ hải giảng: "Kim Hà Nam tỉnh Hoàng Hà dĩ Bắc địa, cựu thời thông xưng viết Hà Nội; nhi xưng Hoàng Hà dĩ Nam viết Hà Ngoại", nghĩa là "Đất tỉnh Hà Nam hiện nay từ Hoàng Hà trở về Bắc, xưa thường gọi là Hà Nội; còn từ Hoàng Hà trở xuống Nam thì gọi là Hà Ngoại".

Rõ ràng đây là một cách đặt tên theo lập trường dân tộc. Từ Hoàng Hà trở về Bắc nói chung thì thời xưa là địa bàn của tộc Hán, mà cái nôi là Trung Nguyên. Vậy từ Hoàng Hà về Bắc là TA (dĩ nhiên là "ta" của Tàu), là nhà, là bên trong, là Hà Nội. Còn bên kia Hoàng Hà là Nam Man, là CHÚNG NÓ, là bên ngoài, là Hà Ngoại (dĩ nhiên đây cũng chỉ là chuyện "đời xưa"). Nhưng trong khi người Trung Quốc vận dụng chỗ đứng để xử lý việc đặt địa danh theo từng vùng BẮC/NAM (thành NỘI/NGOẠI) thì người Việt lại vận dụng nó để xử lý việc diễn đạt sự chuyển dịch từ BẮC xuống NAM và ngược lại, bằng hai vị từ VÀO/RA.

Đối với người Việt thì vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ hiển nhiên là địa bàn gốc, địa bàn cố hữu. Khi di dân xuống phía Nam, họ định cư đến đâu thì địa bàn gốc của họ cũng kéo dài đến đó. Địa bàn này là gia hương quốc thổ mà khi họ càng đi xuống phía Nam để định cư thì sẽ trở thành cố hương của họ. Đi xuống phía Nam, vô hình trung, là RA khỏi gia hương quốc thổ, là RA khỏi ĐẤT NHÀ để đi VÀO một vùng ĐẤT KHÁC. Vùng đất này ở phía NAM cố hương của họ cho nên đi VÀO vùng đất này là ĐI VÀO NAM. Rất rõ ràng mà đơn giản.

Sự đối lập về nghĩa và ngữ dụng giữa RA/VÀO ở đây cũng giống hệt sự đối lập giữa hai từ này mà ta đã thấy trong ngữ đoạn "RA khỏi cánh rừng Y để VÀO thành phố Z". Và rõ ràng là chính lối nói này (VÀO NAM, RA BẮC) đã đưa đến cách gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài, đúng như GS Nguyễn Tài Cẩn đã chủ trương. Nhưng ta phải tránh cái sai lầm lớn lao mà có người đã phạm phải vì đã cho rằng, ở đây, TRONG là NHÀ, là "đất chính, đất của mình" (còn NGOÀI là KHÁCH), như có thể thấy trong đoạn tường thuật dưới đây của tác giả Phạm Văn Tình  do corling đưa lên Corpus Linguistics (Vietnam) ngày 26/5/2010:

"Gần đây, theo tác giả Roland Jacques (trong cuốn “Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học”, NXB Khoa học xã hội, 2007), thì cách giải thích của một thầy cả Dòng Tên (và cũng là một nhà ngữ học) người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral (tài liệu công bố năm 1637) có nhiều luận cứ đáng tin cậy. Theo ông, sau khi nhà Mạc chiếm quyền thắng thế ở Thăng Long, việc phục hồi nhà Lê lập tức được tiến hành. Năm 1545, nhà Mạc đã củng cố và xây dựng đắp lũy, làm nên một "mật khu" ở Thanh Hóa, Nghệ An. Sau đó kinh đô Thăng Long bị mất, nhà Mạc rút về hậu cứ và kiên trì tìm cách lấy lại.

Mãi đến năm 1592, nhà Mạc mới đoạt lại được đất đai từ tay kẻ "thoán nghịch" sau nhiều lần chinh chiến. Chính vào giai đoạn này người ta quen gọi vùng Thanh Hóa, Nghệ An là Đàng Trong (ngụ ý đất chính, đất của mình). Phần từ đó trở ra Bắc gọi là Đàng Ngoài. Cũng phải thôi, vì với triều thần nhà Mạc, dải đất Thanh - Nghệ kia mới đáng là "trái tim" trong giang sơn của họ".

Vậy theo thông tin do cố đạo Gaspar do Amaral cung cấp thì hai tên gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài đã ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XVI và chúng tôi thực sự tin tưởng ở thông tin này. Nhưng nói rằng Đàng Trong hàm ý chỉ "đất chính, đất của mình", như đã thấy trong lời tường thuật trên đây, thì lại hoàn toàn sai. Chỉ hai câu điện thoại thông thường, giản dị dưới đây cũng đã đủ để bác bỏ cái cách hiểu "phản Việt ngữ" đó:

A (từ TP HCM): - Hẳn là Hà Nội đang khẩn trương chuẩn bị cho Đại lễ 1000 năm?

B (từ Hà Nội): - Ừ, NGOÀI NÀY đang khẩn trương lắm.

Có quá ngây ngô mới dám nói (bậy) rằng NGOÀI NÀY không phải là "đất chính, đất của mình" đối với nhân vật B. Ngoài ra, cũng xin nói thêm rằng khi nhà Mạc suy vong và chạy lên Cao Bằng thì "đất chính, đất của mình" của dòng họ này lại "di dời" lên tận Đàng Trên chứ đâu có còn ở "Đàng Trong" nữa. Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La) của cố đạo A. de Rhodes (Roma, 1651) ghi nhận danh ngữ đàng trên (tức Đàng Trên) mà lời giảng đã được nhóm Thanh Lãng dịch là "những tỉnh ở rừng núi".

Chợ bán đồ đồng thời xưa.

Bấy nhiêu cứ liệu đã đủ để phế truất cái cách hiểu Đàng Trong là "đất chính, đất của mình" rồi. Vậy xin mọi người vui lòng rũ bỏ cái ý "đất chính, đất của mình" ra khỏi từ TRONG của danh ngữ Đàng Trong. Tiếc rằng trong bài viết trên đây, tác giả Phạm Văn Tình còn gắn cả nội dung này vào cách hiểu của nhà Nguyễn mà viết tiếp:

"Thực tế, đã có một sự chuyển đổi, do vào thời Trịnh Nguyễn, sự khác biệt địa lý rõ rệt của hai vùng đất nước (thuộc hai triều chính khác nhau) đã tạo nên một nét nghĩa địa lý mới cho Đàng Trong và Đàng Ngoài. Và cũng chỉ người ở phía nhà Nguyễn ưa dùng cặp từ trái nghĩa này hơn. Bởi lẽ, như đã nói ở trên, Đàng Trong được coi là trung tâm, là tiêu điểm giang sơn, là đáng trọng, còn ngoài vùng đó (Đàng Ngoài) là "đất của mình nhưng tạm thời do người khác chiếm đoạt". Âu cũng là một nét nghĩa mang dấu ấn lịch sử mà ta cần tham khảo".

Ta không biết trên đây có đích thực là quan niệm của "người ở phía nhà Nguyễn" hay chỉ là do ông Phạm Văn Tình suy diễn nhưng dù là của ai thì cũng xin thưa với các vị rằng, trong tiếng Việt, TRÊN, DƯỚI, TRONG, NGOÀI đều có thể là "đất chính, đất của mình" cả. Hai địa danh dân dã ĐÀNG TRONG/ĐÀNG NGOÀI chỉ là hệ quả của lối nói VÀO NAM/RA BẮC; còn lối nói VÀO NAM/RA BẮC thì chính nó lại bắt nguồn từ quan niệm RA KHỎI ĐẤT NHÀ MÀ VÀO ĐẤT NGƯỜI KHÁC, chứ không phải từ bất cứ quan niệm kỳ thị nào. Đằng sau lối nói đó là bóng dáng của những cuộc di dân từ Bắc xuống Nam, những đợt Nam tiến

An Chi

Được đánh giá như “đòn bẩy chiến lược” cho doanh nghiệp nhà nước kiến tạo lợi thế cạnh tranh, mở ra không gian phát triển cho kinh tế nhà nước, Nghị quyết 79-NQ/TW được kỳ vọng sẽ là điểm tựa để các doanh nghiệp nhà nước làm tốt vai trò “sếu đầu đàn” của kinh tế Việt Nam.

Bước sang năm 2026, châu Âu đi vào một trạng thái mà chỉ cần thay đổi nhỏ ở chiến trường, thị trường hay phòng phiếu cũng có thể kéo theo biến động lớn trong chính sách.

Thời tiết nắng rao được dự báo diễn ra khắp cả nước trong ngày hôm nay. Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ sáng sớm sương mù, trời rét. Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ trời lạnh, có nơi rét, mưa dông cục bộ, tập trung về chiều.

Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội và bạn bè quốc tế. Hà Nội là nơi diễn ra các hoạt động trọng tâm của Đại hội, với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, TP triển khai đồng bộ các phương án y tế, vệ sinh môi trường, trang hoàng đường phố rực rỡ cờ hoa, lan tỏa không khí vui tươi, tin tưởng của các tầng lớp nhân dân.

Không đi theo lối trinh thám hay phá án quen thuộc, “Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới” của nhà văn Dương Bình Nguyên đặt người đọc vào vùng nhạy cảm của đời sống đương đại, nơi những cái chết được gọi tên là tự sát thực chất gắn với mạng lưới vô hình của dữ liệu, công nghệ và quyền lực. Tiểu thuyết gợi ra một câu hỏi nhức nhối về phẩm giá con người trong thời đại số, khi thân xác có thể mất đi nhưng dấu vết sống vẫn tiếp tục bị khai thác.

Ngày 12/1, Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT), Bộ Công an kết thúc điều tra vụ án hình sự "Vi phạm các quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ; Nhận hối lộ" xảy ra tại Công ty TNHH Cây xanh Công Minh và các tỉnh, thành phố và ra bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 02/KLĐT-ANĐT-P4.

Để bảo đảm TTATGT phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1/2026, Công an TP Hà Nội thông báo chính thức về việc phân luồng và tổ chức hướng đi cho các phương tiện. Người dân cần đặc biệt lưu ý các khung giờ cao điểm và lộ trình tạm cấm đối với xe tải, xe khách trên 16 chỗ tại nhiều tuyến phố trọng điểm.

Quá trình sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước cấp tại Trung tâm Huấn luyện - Thi đấu TDTT Hà Tĩnh có nhiều sai phạm nghiêm trọng, dẫn đến ảnh hưởng quyền lợi vận động viên và chất lượng thể thao thành tích cao của tỉnh nên nữ Giám đốc và Kế toán trưởng của Trung tâm này đã bị bắt giữ.

Ngày 13/1, Công an tỉnh Phú Thọ cho biết, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam Nguyễn Anh Tuấn (SN 2007), trú tại tổ dân phố Đầm Vạc, phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ về tội "Cố ý gây thương tích".

Nam sinh lớp 11 tại Hà Tĩnh đã tự tìm hiểu trên mạng xã hội cách chế tạo pháo nổ, sau đó đặt mua thuốc pháo, dây cháy chậm và các vật liệu cần thiết để chế tạo 25 quả pháo nhằm mục đích sử dụng trong các dịp lễ, Tết.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文