Chuyện hòn than mà không phải chỉ… hòn than!
Vì sao bùng nổ nạn khai thác than trái phép và xuất lậu?
Vậy là lần thứ hai, vùng mỏ Quảng Ninh bùng nổ nạn đào than "thổ phỉ", nạn buôn gian bán lậu hòn than...
Cách đây gần 20 năm, từ năm 1990 đến 1994, núi rừng tỉnh Quảng Ninh tưởng như bị tàn phá sạch sẽ bởi hàng ngàn lò than "thổ phỉ" và “phong trào” làm than, xuất than theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, Thái Lan “phát triển” theo cả “bề rộng lẫn chiều sâu”. Nhà nhà làm than, người người làm than, không ít cơ quan Nhà nước, cũng tổ chức buôn bán, vận chuyển than.
Không thể để tài nguyên đất nước bị “cướp phá” trắng trợn như vậy, vào năm 1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã xuống trực tiếp chỉ đạo Tỉnh ủy - UBND tỉnh Quảng Ninh dẹp nạn làm than "thổ phỉ". Và thế là từ cuối năm 1995, nạn đào than trái phép ở Quảng Ninh đã giảm đáng kể.
Tất nhiên, việc đào than, bòn mót than, trộm cắp than, xuất lậu than theo đường tiểu ngạch vẫn còn và tăng hay giảm tùy theo giá cả hòn than trên thế giới. Quy mô của việc xuất than tiểu ngạch đã “tăng nhiệt” dần từ cuối năm 2006 và đến cuối 2007 rồi sang đầu năm nay đã lên đến đỉnh điểm.
Vì sao việc khai thác than "thổ phỉ" và xuất than lậu lại bùng phát như vậy? Đi tìm lời giải này không khó và người ta có thể dễ dàng liệt kê ra nào là do sự phân cấp quản lý giữa các mỏ than và chính quyền không rõ; nào là do buông lỏng quản lý, kiểm soát việc khai thác than; rồi là sự tiêu cực của một số cán bộ có trách nhiệm quản lý của các mỏ, các chính quyền cơ sở, của hải quan v.v... Nhưng vấn đề cốt lõi để người ta đua nhau lao vào đào bới, khai thác than bằng đủ mọi cách, ở mọi nơi và tìm cách xuất than lậu bằng đủ mọi thủ đoạn, cách thức, chính là từ... giá than.
Trong khi giá than trên thế giới tăng vọt, đặc biệt là tại thị trường Trung Quốc do khan hiếm than vì tắc đường vận chuyển do đợt đại hàn hồi đầu năm, thì giá than Việt Nam đang được bán theo kiểu như thời... bao cấp. Mà nghịch lý ở chỗ là “sự bao cấp” được rải đều cho tất cả các đối tượng tiêu thụ than.
Một tấn than cám 5, ngành than bán cho ngành điện với giá 20 USD, trong khi đó, bên Trung Quốc mua vào với giá... hơn 40 USD. Cùng 1 tấn than bán cho Nhà máy Xi măng Chinh Phong với giá 750.000đ, nhưng cũng than đó nếu xuất khẩu giá thành lên tới 130 USD/tấn.
Rồi than bán cho ngành giấy, cho phân bón, cho hóa chất, cho các chủ tiêu thụ nung vôi, đốt gạch và... đến nấu bếp... đều với mức giá đã được quy định và dĩ nhiên là giá quá rẻ.
![]() |
| Một xí nghiệp sàng tuyển than tận thu từ đá thải ở Cẩm Phả. |
Như vậy, nạn đào than "thổ phỉ", xuất than lậu ở Quảng Ninh có gây sốt cũng là điều dễ hiểu. Khai thác than "thổ phỉ", giá thành rẻ, lại trốn được thuế, một vốn ba bốn lời... thì người ta say sưa lao vào làm, buôn bán cũng là lẽ “đương nhiên”. Và không chỉ tài nguyên của đất nước bị mất mà còn kéo theo bao hệ lụy nữa làm mất trật tự trị an.
Ngay khi lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh ra tay chống nạn xuất than lậu và đào than "thổ phỉ", đã có không ít dư luận cho rằng, đây là cuộc “oánh nhau” giữa các doanh nghiệp tư nhân được phép xuất than và các ông chủ này đã thuê mướn báo chí để làm công cụ cho mình. Chuyện này thì chắc không có, nhưng hiện tượng phóng viên nghe thông tin một chiều và “phóng bút” viết theo kiểu suy diễn, gây tổn hại đến uy tín của những doanh nghiệp làm ăn đứng đắn thì không phải là không có.
Chưa hết, hàng loạt đơn thư nặc danh gửi đi khắp nơi “tố cáo” lãnh đạo tỉnh “bảo kê” rồi móc ngoặc với doanh nghiệp xuất than. Người bị bôi nhọ nhiều nhất, thậm chí cả bằng những lời đe dọa theo kiểu “xã hội đen” chính là Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Duy Hưng.
Có người như ông Nguyễn Bá Toàn, Giám đốc Công ty Thương mại và Dịch vụ Toàn Phát, chỉ vì cay cú với việc có 3 tàu chở than lậu bị lực lượng Biên phòng tỉnh bắt giữ, đã gửi đơn tố cáo Bí thư Tỉnh ủy... Tất nhiên, nội dung đơn này đều là những điều hoặc là không có, hoặc là đã được các cơ quan chức năng xác minh làm rõ từ lâu.
Rồi không chỉ “đánh” lãnh đạo tỉnh, nhiều kẻ còn tung tin, vu khống một số giám đốc doanh nghiệp làm ăn đúng pháp luật... Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần vào cuộc quyết liệt, tìm cho ra những kẻ tung tin thất thiệt và xử lý nghiêm khắc.
Hiện nay, các cơ quan điều tra của Bộ Công an, Công an tỉnh Quảng Ninh cũng đã vào cuộc và chắc chắn trong thời gian tới, chuyện hòn than sẽ được phơi bày, và đó cũng là cách tốt nhất để bảo vệ những doanh nghiệp làm ăn đúng pháp luật.
Chưa khi nào mà hòn than lại không chỉ còn là hòn than đen óng ánh nữa mà sự chuyển dịch, thay đổi về giá của nó đã tác động đến nền kinh tế của cả nước.
Nếu tăng giá than, thì giá điện, giá phân bón, giá giấy... sẽ tăng và tất nhiên là tạo phản ứng dây chuyền gây “sốc” cho nền kinh tế.
Nhưng nếu không tăng giá thì Nhà nước sẽ mất đi một khoản tiền khổng lồ, mà nếu dùng khoản tiền lãi (cùng với lãi của xăng dầu, của điện v.v...) thì sẽ đủ sức trợ cấp, trợ giá trong giải quyết khó khăn cho các đối tượng đáng được hưởng như người lao động nghèo, người làm công ăn lương.
Sẽ là vô lý khi Nhà nước phải bỏ tiền ra bù giá xăng dầu, giá than, điện cho những người mà họ đi trên những chiếc xe trị giá hàng tỉ, ở những biệt thự sang trọng và mức tiêu thụ năng lượng của họ gấp hàng trăm lần một người bình thường...
Thật vô lý khi Nhà nước phải bán xăng dầu, than, điện với giá đã được bù lỗ cho các ông chủ nước ngoài và tất nhiên là họ thu lợi lớn từ việc trợ giá này.
Rồi tại sao Thái Lan mua than của ta để nung clinke rồi lại mang bán cho ngành xi măng Việt
Cũng có không ít ý kiến cho rằng, ngành than, cũng như ngành dầu khí, điện lực... là các doanh nghiệp Nhà nước; toàn bộ cơ sở vật chất của ngành này là của dân xây dựng nên, cho nên dù có lỗ thì cũng phải sản xuất để giữ cho mặt bằng giá cả được ổn định. Nếu để cho các ngành này tự quyết giá theo thị trường thì sẽ làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế, đẩy những người nghèo, những người làm công ăn lương vào khó khăn.
Nhưng nếu đặt vấn đề: Các doanh nghiệp này là của Nhà nước, lãi họ làm ra phải được nộp cho Nhà nước và Nhà nước mang tiền lãi này trợ cấp cho người đáng được hưởng, người cần được hưởng, chứ không thể cho tất cả mọi đối tượng. Có như vậy mới tạo được công bằng xã hội và “cởi trói” cho các doanh nghiệp.
Bởi muốn hội nhập với nền kinh tế thế giới thì phải tuân thủ luật chơi của thị trường chung. Như vậy các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải cải tiến, phải thay đổi công nghệ, thay đổi cách quản lý, giảm giá thành sản phẩm và như vậy nội lực mới được phát huy tới mức tối đa.
Binh pháp Tôn Tử có câu: “Dồn vào đất chết mới tìm ra đường sống”. Trong kinh tế cũng vậy, nếu các doanh nghiệp vẫn được hưởng “ân huệ” của một cơ chế giá bao cấp thì chắc chắn, chẳng việc gì họ phải lo “đổi mới” công nghệ, lo tinh giảm biên chế, lo cắt giảm chi tiêu, tiết kiệm trong sản xuất.
Một bài học vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi, đó là khi Đảng, Nhà nước bắt đầu công cuộc đổi mới và một việc làm cũng “gây sốc” cho toàn dân là xóa bỏ chế độ tem phiếu. Ngày ấy, khi không còn sổ gạo, không ít người đã gào lên cho là “mất xã hội chủ nghĩa đến nơi rồi!”, và sẽ đẩy cán bộ công nhân viên chức ra... lề đường! Nhưng thực tế hơn 20 năm qua cho thấy: Nếu không xóa bao cấp, liệu Việt
Ngày 29/4 vừa qua, UBND tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã ký kế hoạch thực hiện ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc sản xuất, kinh doanh than và các giải pháp xử lý nạn khai thác, chế biến, vận chuyển, kinh doanh than trái phép.
Lần đầu tiên, việc đề cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở đã được thể hiện như sau: “Ủy ban nhân dân và các cơ quan cấp phường, xã có trách nhiệm xóa bỏ các điểm thu mua than, tồn trữ than, bến than trái phép trên địa bàn, nếu tình hình phức tạp, báo cáo cấp trên giải quyết.
Ủy ban nhân dân các huyện Hoành Bồ, Đông Triều, thị xã Cẩm Phả, Uông Bí, thành phố Hạ Long, nếu đơn vị nào để xảy ra tình trạng khai thác than trái phép, lập bến bãi không đúng quy hoạch thì chính quyền địa phương, cá nhân người đó phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh...”.
Trong buổi làm việc với ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, chúng tôi có đặt câu hỏi về tính khả thi và lâu dài của kế hoạch phối hợp với UBND tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn, nhằm ngăn chặn nạn khai thác than "thổ phỉ" và xuất lậu than, ông khẳng định:
- Với biện pháp quyết liệt mà Chính phủ đã đặt ra, cộng với sự ra tay của chính quyền tỉnh Quảng Ninh, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các mỏ với chính quyền thì chắc chắn sẽ ngăn chặn được nạn khai thác than trái phép và buôn lậu than.
Buôn lậu than có ba nguồn: khai thác trái phép và ăn cắp than; khai thác tận dụng và mua dưới danh nghĩa để sử dụng nhưng lại đem xuất khẩu. Cho nên phải phân biệt rạch ròi đâu là nguồn than "thổ phỉ", đâu là nguồn than tận dụng.
Với than "thổ phỉ" thì phải kiên quyết dẹp, còn với những nguồn khai thác tận dụng hoặc đi bòn mót than từ các bãi thải thì phải biết tôn trọng sức lao động của họ. Và cách tốt nhất là doanh nghiệp nên mua than của họ với giá thỏa thuận.
Tuy nhiên, về lâu dài, muốn ngăn chặn được triệt để nạn buôn lậu than thì phải tính lại giá. Nếu không người ta sẽ còn tìm cách xuất lậu. Cũng như xăng dầu thôi, Nhà nước nhập xăng dầu về, bán với giá đã được bù lỗ thì ắt sẽ có buôn lậu qua biên giới.
Ông Kiển cũng cho biết, từ năm 2001, Chính phủ đã chỉ đạo phải điều chỉnh giá than sao cho cân bằng với giá thế giới, nhưng do không làm quyết liệt, lúc “căng”, lúc “chùng”, cho nên phải dừng lại. Và điều này đã tác động lớn đến giá hòn than hôm nay.
Bài toán an ninh cho... hòn than
Chưa bao giờ cái lĩnh vực an ninh phi truyền thống lại được coi trọng đến như bây giờ. Trước kia, nói đến an ninh là chỉ nói đến ngăn chặn gây rối, lật đổ, khủng bố, thì bây giờ an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nước, môi trường, an ninh tư tưởng - văn hóa...
Ở Việt
Theo sự tính toán của các chuyên gia đến năm 2010, lượng điện tiêu thụ than của Việt Nam là 37 triệu tấn, nhưng ngành than sản xuất 47 triệu, như vậy dư ra 10 triệu tấn để xuất khẩu. Nhưng đến năm 2015, ta sản xuất được 60 triệu tấn thì nhu cầu là 94 triệu; sẽ thiếu 34 triệu tấn; năm 2020, sản xuất than chỉ đáp ứng 38% nhu cầu - nghĩa là thiếu 114 triệu tấn... Và nếu thiếu than thì chắc chắn tốc độ phát triển kinh tế sẽ chậm đáng kể, đó là chưa tính đến việc hỗn loạn trong sản xuất vì thiếu năng lượng.
Trong khi đó, theo ông Đoàn Văn Kiển, trữ lượng than ở vùng mỏ Quảng Ninh còn đủ để khai thác cả... trăm năm nữa nếu như được “moi” sâu tới hơn 1.000 mét. Còn trữ lượng than ở đồng bằng Bắc Bộ trải rộng trên địa bàn các tỉnh Hưng Yên - Hải Dương - Thái Bình - Hà Nam - Nam Định... thì đủ để khai thác phục vụ tối đa cho sự phát triển công nghiệp hàng... 300 năm.
Vấn đề là ngành than phải chủ động vào cuộc ngay từ bây giờ (mà theo ông Kiển cũng là hơi muộn) - đó là khẩn trương áp dụng công nghệ khai thác than tiên tiến trên thế giới nhằm tận thu than ở các mỏ có độ sâu trên 1.000 mét; xây dựng các nhà máy điện, xi măng sử dụng được các loại than xấu (thậm chí cực xấu) và thân thiện với môi trường.
Trung Quốc hiện nay đã sản xuất được điện bằng loại than mà trong thành phần của nó có tới 60% đá xít, sử dụng than xấu loại 3200K... Rồi họ còn mang than xấu nghiền ra trộn với đất đóng gạch và đem nung theo công nghệ mới. Như vậy viên gạch vừa nhẹ, xốp, cách nhiệt, cách âm tốt hơn...
Ngành than hiện nay cũng đã đi đầu trong việc xây dựng các nhà máy điện sử dụng than xấu, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Phải có sự đổi mới về công nghệ mạnh mẽ hơn nữa thì sẽ nâng cao được giá trị sử dụng của hòn than và đó là cách tốt nhất để đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai.
Tuy nhiên để ngành than làm được điều đó, thì cần phải có lộ trình điều chỉnh giá cả cho hợp lý. Không thể để đến 3/4 số lượng than của ngành than được tiêu thụ với một mặt bằng giá cả thấp chỉ bằng 1/3 so với thế giới và khu vực. Nếu không điều chỉnh được giá thì không những làm chậm tiến độ phát triển của ngành than mà còn làm cho công cuộc chống than thổ phỉ và xuất lậu than kém hiệu quả
