Vận hội và thách thức của nền kinh tế nước ta khi gia nhập WTO
Trong những năm tới, việc gia nhập WTO cùng với tiến trình nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn vào các tổ chức khu vực sẽ mang lại những vận hội và thách thức mới rất to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Phần lớn các chuyên gia kinh tế của chúng ta đều cho rằng những vận hội và thách thức này đan xen nhau, trong vận hội có thách thức, trong thách thức có vận hội. Trong vận hội có thách thức ở chỗ, dù có vận hội to lớn, nhưng nếu ta không có khả năng nhận biết nó, có gan giành lấy nó, có sức nắm bắt, khai thác nó, thì nó sẽ trôi đi hoặc người khác sẽ giành lấy mất.
Trong thách thức có vận hội ở chỗ, dù thách thức có nặng nề, nhưng nếu ta có khả năng nhận biết nó, có ý chí đương đầu với nó, có năng lực khắc phục, đẩy lùi nó thì vẫn có thể vượt qua thách thức, chuyển hóa tình thế, tạo đà mới để đi lên. Các chuyên gia cũng cho rằng thách thức là to lớn và hiện hữu ngay trong những năm tới, sau khi chúng ta gia nhập WTO, còn vận hội sẽ xuất hiện ngày càng lớn và rõ nét hơn trong tương lai, và về cơ bản, vận hội là to lớn và lâu dài hơn so với thách thức.
Cũng cần thấy rằng nếu chúng ta không gia nhập WTO thì cơ hội sẽ giảm đáng kể, trong khi thách thức thì không những không giảm mà lại còn nặng nề thêm. Riêng áp lực từ AFTA, ASEAN + Trung Quốc... cũng đã là thách thức lớn đối với chúng ta; ngoài ra không có tư cách thành viên WTO thì hoạt động của ta trên thương trường về nhiều mặt sẽ khó khăn thêm.
Những vận hội và thách thức nào đang chờ đón chúng ta khi gia nhập WTO?
Về vận hội, đây là thời cơ mới để chúng ta thúc đẩy việc mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế với các nước khác, tạo vị thế vững chắc hơn trong tham gia phân công lao động quốc tế, đồng thời đẩy mạnh công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở trong nước, tạo năng lực cạnh tranh mạnh hơn, đưa nền kinh tế đất nước lên trình độ phát triển cao hơn. Hai mặt này gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau, có thể cùng nhau tạo một bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của nước ta.
Về mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế với các nước, những cơ hội cụ thể của chúng ta là:
- Tận dụng việc các nước mở cửa thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của nước ta, dành cho ta quy chế tối huệ quốc (MFN), không phân biệt đối xử để phát triển xuất khẩu, nhập khẩu một cách hiệu quả hơn. Do chưa phải là thành viên WTO, trong những năm qua hàng hóa của chúng ta xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài vẫn bị nhiều rào cản, bị phân biệt đối xử (điển hình nhất là hàng rào hạn ngạch đối với hàng dệt may, những hạn chế về xuất khẩu nông sản...).
Những rào cản này khi được dỡ bỏ sẽ mở đường cho nhiều sản phẩm của VN thâm nhập mạnh hơn các thị trường bên ngoài, vừa đáp ứng nhu cầu về “đầu ra” cho nhiều ngành, nhiều sản phẩm và doanh nghiệp, vừa tạo thêm việc làm cho nhiều người lao động, vừa mang lại nguồn ngoại tệ cần thiết cho đất nước. Về nhập khẩu, do thuế giảm và các hàng rào khác được dỡ bỏ, chúng ta có thêm sự lựa chọn để nhập khẩu hiệu quả hơn những sản phẩm cần thiết về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc cung cấp công nghệ, thiết bị, vật tư “đầu vào” phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta; hiệu quả của nhập khẩu vừa góp phần tạo nên hiệu quả của nền kinh tế, vừa mang lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng.
- Tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp hiệu quả hơn các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Khi nước ta gia nhập WTO, các cam kết quốc tế của chúng ta sẽ làm các nhà đầu tư nước ngoài thực sự yên tâm về môi trường đầu tư ở nước ta; đồng thời cam kết của các nước khác về mở cửa thị trường cho VN, triển vọng phát triển xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường nội địa ở VN cũng tạo nên rất nhiều cơ hội mới cho họ để có thể đầu tư, khai thác thị trường VN về nhiều mặt. Thu hút thêm đầu tư nước ngoài, chúng ta không những có thêm các nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý tốt hơn, mà còn khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực và lợi thế sẵn có trong nước, tăng cường hơn quan hệ hợp tác nhiều mặt với các thị trường bên ngoài.
- Tăng khả năng tham gia phân công lao động quốc tế một cách thuận lợi hơn, giành vị trí ổn định và có thể cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chưa có tư cách thành viên WTO, từ trước tới nay chúng ta tham gia phân công lao động quốc tế với nhiều hạn chế, thường chỉ tập trung vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít tham gia được vào các khâu khác có giá trị gia tăng cao hơn hẳn như các dịch vụ nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, tiếp thị, phân phối... Ngay trong khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, sự cạnh tranh ngày càng mạnh trên thị trường cũng khiến chúng ta không dễ giữ được vị trí của mình. Gia nhập WTO tạo cho chúng ta vị thế bình đẳng, cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, tăng niềm tin của các đối tác nước ngoài đối với chúng ta, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chúng ta khai thác, phát triển các năng lực mới của mình để tham gia phân công lao động quốc tế trên trình độ cao hơn, ở các khâu tạo giá trị gia tăng lớn hơn.
- Đỡ phải gánh chịu những vụ khiếu kiện bất công, bất bình đẳng trong quan hệ thương mại với các đối tác do những quy định khá minh bạch, không phân biệt đối xử trong cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế của WTO.
- Tạo vị thế mới cho nước ta trong việc tham gia các vòng đàm phán toàn cầu, khu vực và song phương trong tương lai. Vị trí thành viên WTO cho phép chúng ta chủ động và bình đẳng khi tham gia các vòng đàm phán tiếp theo của WTO, bảo vệ và giành những lợi ích mới cho mình trong những lĩnh vực sẽ được đưa ra đàm phán. Trong các quan hệ ở các tổ chức khu vực cũng như các quan hệ song phương, vị thế của ta cũng bình đẳng hơn. Trên cơ sở này, chúng ta có thể tiến hành những cuộc đàm phán song phương mới nhằm nâng tầm quan hệ kinh tế của ta với các đối tác quan trọng.
Về thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế trong nước, những cơ hội cụ thể của chúng ta là:
- Hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh. Đây vừa là nhiệm vụ chúng ta xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm 2006-2010, vừa là yêu cầu của việc thực hiện các cam kết với WTO. Hai nhiệm vụ cùng được tiến hành theo cùng một hướng sẽ thúc đẩy chúng ta thực hiện tốt hơn, tạo được thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của mình, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Cấu trúc lại nền kinh tế về các mặt cơ cấu ngành, sản phẩm, thị trường, các khu vực doanh nghiệp theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tạo lợi thế mới. Trên cơ sở những cơ hội mới ở các thị trường bên ngoài và bối cảnh mới về mở cửa thị trường trong nước, đây là cơ hội để chúng ta rà soát, điều chỉnh lại các chiến lược phát triển của mình, cấu trúc lại nền kinh tế, phân bổ lại các nguồn lực để tăng tính hiệu quả và cạnh tranh của nền kinh tế.
- Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy các ngành công nghệ cao, phát triển doanh nghiệp, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân thông qua việc nắm bắt, khai thác các cơ hội thị trường và quan hệ hợp tác kinh tế mới ở trong và ngoài nước.
Về thách thức, chúng ta sẽ phải đương đầu với những thách thức nặng nề, chủ yếu do cạnh tranh tăng lên ở ngay thị trường trong nước khi chúng ta thực hiện những cam kết mở cửa thị trường của mình với WTO, do những năng lực còn hạn chế trong nội bộ nền kinh tế, do yêu cầu tuân thủ hệ thống các quy định của WTO, do sự gắn chặt hơn nền kinh tế nước nhà với thị trường quốc tế đầy cạnh tranh và nhiều biến động.--PageBreak--
Những thách thức cụ thể ở thị trường bên ngoài mà chúng ta phải đối phó là:
- Phải tuân thủ “luật chơi chung” của WTO, đồng thời cũng phải chú trọng hệ thống luật ở các nước đối tác trong quan hệ làm ăn với họ. Cả hai hệ thống luật này đều vừa rộng, vừa phức tạp, hiểu được không phải là dễ, mà nếu không nắm được thì vừa khó khai thác những cơ hội, lợi ích mới do vị thế thành viên WTO mang lại, vừa dễ dẫn đến vi phạm, tổn thất hoặc thua thiệt lợi ích. Các đối thủ của ta lại thường có nhiều kinh nghiệm và thuần thục hơn ta trong việc sử dụng các công cụ pháp lý này theo cách có lợi cho họ.
- Phải đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt của các đối thủ ở các thị trường bên ngoài trên hầu hết các lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, nhân lực, công nghệ..., ở nhiều cấp độ. Những cơ hội thị trường ở 150 nước thành viên WTO cực kỳ to lớn, nhưng đó là những cơ hội dành cho mọi nước, nếu thiếu nhạy bén, kém năng lực cạnh tranh hoặc chậm chân thì khó mà giành được. Đối với chúng ta, ngay việc nhận diện những đối tượng, đối thủ và cách thức cạnh tranh chính trong từng lĩnh vực, trên từng thị trường cụ thể cũng không đơn giản; việc tìm kiếm và vận dụng được những biện pháp, công cụ để đối phó với cạnh tranh càng khó khăn hơn.
- Phải đối phó với nhiều rào cản kỹ thuật ở các nước. Tuy mục tiêu của WTO là hướng tới tự do hóa thương mại, nhưng trên thực tế, xu hướng bảo hộ lại không giảm, thậm chí còn tăng ở nhiều nước. Do các quy định của WTO yêu cầu các nước phải giảm thuế, bãi bỏ các hàng rào phi thuế, nên nhiều nước đã sử dụng các hàng rào kỹ thuật như công cụ quan trọng để bảo hộ cho các sản phẩm của mình trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Trình độ công nghệ ngày càng phát triển, yêu cầu bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường thiên nhiên tăng lên cũng tạo thêm khả năng và lý do cho sự áp đặt những hàng rào loại này, làm cho những hàng rào này ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, nhất là ở các nước có trình độ phát triển cao.
- Thị trường khu vực và thế giới nhiều biến động, cạnh tranh gay gắt, thay đổi nhanh, luôn tạo ra những thách thức và cơ hội mới, có khả năng làm thay đổi lợi thế so sánh và vị thế cạnh tranh của các nền kinh tế, các đối tượng tham gia thị trường. Bối cảnh đó đòi hỏi sự nhanh nhạy, tính năng động, sáng tạo và khả năng thích ứng cao của các nền kinh tế, các doanh nghiệp, doanh nhân và các đối tượng khác khi tham gia thị trường quốc tế. Nếu thiếu hệ thống thông tin, nghiên cứu thị trường, thiếu sự linh hoạt trong hệ thống làm việc, thiếu tố chất năng động, thích ứng trong từng đơn vị, từng con người, thì các nền kinh tế và doanh nghiệp rất dễ bị chấn động, tổn thương trước những biến động thị trường, càng khó có thể vượt qua thách thức và nắm bắt những cơ hội mới nảy sinh.
Những thách thức từ bên trong nền kinh tế chúng ta cần vượt qua là:
- Phải sửa đổi, điều chỉnh hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế của nước ta cho phù hợp với các cam kết quốc tế. Đây là việc không dễ dàng, mặc dù mấy năm gần đây chúng ta đã làm được rất nhiều. Mặt khác, việc còn khó hơn là tổ chức thi hành các luật, thực hiện các cam kết liên quan như minh bạch, công khai, tham vấn doanh nghiệp trước khi ban hành các văn bản pháp quy về kinh tế... Những việc này đều có thể bị WTO giám sát chặt chẽ và “thổi còi” nếu chúng ta vi phạm. Vấn đề điều chỉnh và thực thi pháp luật trước hết đòi hỏi nỗ lực rất lớn của nhà nước, đồng thời đòi hỏi các công chức nhà nước phải có năng lực, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ cao. Mọi doanh nghiệp và công dân cũng cần nâng cao sự hiểu biết về hệ thống luật trong nước và ý thức tuân thủ pháp luật.
- Thể chế kinh tế thị trường ở nước ta chưa hoàn thiện, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, trở ngại. Điều này trước hết sẽ cản trở sự vươn lên nhanh chóng và mạnh mẽ của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp, từ đó hạn chế khả năng phát triển với tốc độ nhanh và chất lượng, hiệu quả cao của nền kinh tế. Trong khi đó chúng ta lại rất cần một sự phát triển bứt phá trong những năm tới để vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội mới với việc gia nhập WTO.
- Điểm xuất phát của nước ta thấp, năng suất lao động thấp, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế, của nhiều sản phẩm và doanh nghiệp nhìn chung còn hạn chế, hệ thống kết cấu hạ tầng còn kém hiệu quả, nhất là hạ tầng thương mại và các dịch vụ phục vụ kinh tế đối ngoại (cảng, sân bay, các cửa khẩu, các phương tiện vận tải quốc tế...). Những vấn đề này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng và mức độ thành công của chúng ta khi gia nhập WTO, tuy nhiên để khắc phục lại mất nhiều thời gian, công sức và tiền của.
- Chất lượng nguồn nhân lực, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, đội ngũ quản trị doanh nghiệp đều còn hạn chế so với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Hệ thống giáo dục, đào tạo lại yếu, khó tạo nên bước phát triển nhanh, mạnh rất cần thiết về nguồn nhân lực tron
- Một số ngành, sản phẩm, doanh nghiệp, đối tượng dân cư có thể bị thua thiệt trước những thay đổi về bối cảnh cạnh tranh, cần được chuẩn bị và hỗ trợ. Trong khi đó mạng lưới an sinh xã hội ở nước ta còn hạn chế, nhất là trong các đối tượng không làm công ăn lương, trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. Chúng ta rất cần quan tâm tới vấn đề này, vì đây không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn liên quan đến sự ổn định chính trị và xã hội ở nước ta.
Những phân tích trên đây cho thấy về mặt kinh tế, cả vận hội và thách thức mới đối với nước ta đều hoàn hoàn không nhỏ. Song dựa trên những kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta, trên cơ sở những thành quả của 20 năm đổi mới, chắc chắn nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, với ý chí và khát vọng vươn lên xây dựng đất nước hùng cường, tạo nên cuộc sống ngày càng hạnh phúc, sẽ vượt qua thách thức, nắm bắt vận hội, đạt được những thành công mới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tham gia WTO và hội nhập kinh tế quốc tế