Vốn đầu tư cho ngành điện: Tăng giá điện không phải là cách duy nhất
Tăng giá chỉ để tăng lợi nhuận cho ngành điện không những khiến người dân phải trả nhiều tiền hơn mức đáng phải trả, mà còn phải gánh chịu thêm những hậu quả nặng nề hơn nhiều do những biến động tất yếu sẽ xảy ra về giá cả của hàng loạt loại hàng hóa, dịch vụ. Thêm vốn đầu tư cho ngành điện, liệu còn cách nào khác?
Báo cáo của Tổ công tác liên ngành về giá điện do Bộ Công nghiệp chủ trì cho biết: Với tốc độ tăng nhu cầu 16 - 17%/năm, trong giai đoạn 2006 - 2010 nước ta phải gấp rút đầu tư và đưa vào vận hành thêm 68 nguồn điện với tổng công suất là 16.805 MW. Trong đó, 27 dự án do EVN đầu tư với công suất 8.326 MW, 5 dự án do EVN liên doanh với công suất 3.150 MW. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án này là 250.000 tỉ đồng. Sau khi đã huy động tổng lực, EVN mới chỉ thu xếp được 234.000 tỉ đồng, vẫn còn thiếu 16.000 tỉ đồng.
16.000 tỉ đồng tuy chỉ chiếm khoảng 2,6% tổng nhu cầu đầu tư, nhưng lại là số tiền rất lớn, không dễ gì huy động được. Theo giải trình của EVN thì hiện việc tìm kiếm thêm các khoản tín dụng lớn như vậy từ ngân hàng là rất khó khăn. Còn khả năng huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phần hóa các nhà máy điện cũng không có hy vọng, bởi lợi suất đầu tư của ngành điện rất thấp, chỉ đạt khoảng 3%/năm, không đủ sức hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Việc bán cổ phần một cách trầy trật của một số nhà máy nhiệt điện đã cho thấy rõ điều này.
Như vậy, chỉ còn cách dễ nhất là “huy động sức dân”,... các phương án của Tổ công tác về tăng giá điện dù được đưa ra trưng cầu ý kiến trong thời gian khá dài (thực tế chỉ trong phạm vi hẹp) nhưng cuối cùng vẫn “chốt” mục đích cuối cùng là lấy lợi nhuận từ việc tăng giá điện để bù đắp cho phần vốn còn thiếu. Theo lộ trình tăng giá điện đặt ra trong giai đoạn 2006 - 2010, thì dự kiến lợi nhuận thu được sau khi tăng giá điện để bổ sung nguồn vốn đầu tư là 14.464 tỉ đồng, cơ bản “lấp” đủ phần thiếu hụt. Và nếu không có gì thay đổi, lộ trình tăng giá điện theo kiến nghị của Tổ công tác liên ngành, sẽ bắt đầu từ ngày 1/7 tới.
Vẫn còn cách khác!...
EVN rõ ràng đang gặp khó khăn trong việc tìm nguồn vốn khi chiến lược phát triển được vạch ra rất cụ thể. Tuy nhiên, thực tế không phải là không còn cách khác.
Năm 2004, thực hành chính sách tiết kiệm điện, Chính phủ
Trước hết, ngành điện đưa ra dự báo về tốc độ tăng nhu cầu điện năng 16-17%/năm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành thì EVN đã không tính toán đến những tổn thất, lãng phí và giải pháp tăng hiệu quả sử dụng điện năng để cho thấy nhu cầu thực sự về điện năng là bao nhiêu. Những năm qua, báo cáo về tổn thất điện năng của ngành điện cũng chỉ mang tính tương đối. Được biết, năm 2005 sản lượng điện đạt 53,32 tỉ kWh, trong khi điện thương phẩm (bán ra) chỉ có 44,9 tỉ kWh, có nghĩa là tổn thất điện năng tới 15,8% (EVN đưa ra con số 11,6%). Đây là điều rất đáng tiếc trong khi ở nước láng giềng Trung Quốc, lượng điện năng tổn thất chỉ là 8,4%, nhiều nước khác con số này là 7-8%. Để tổn thất điện năng như vậy, cũng dễ lý giải vì sao lãi của EVN chỉ đạt mức 3%/năm.
Bên cạnh tỉ lệ điện năng bị tổn thất cao như vậy, các chuyên gia ngành điện còn chỉ ra cụ thể những nguyên nhân gây lãng phí trong sử dụng điện. Ví dụ việc sử dụng dây chuyền, máy móc công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng cũng là một nguyên nhân dẫn đến lãng phí điện năng. Mặt khác, ở khu vực dân cư và hệ thống các cơ quan quản lý (tiêu thụ tới 42,2%) thì tình trạng lãng phí trong sử dụng thiết bị điện cũng rất trầm trọng. Người ta tính toán rằng ngay việc sử dụng một chiếc TV không đúng cách cũng gây lãng phí rất lớn về điện năng, bởi một chiếc TV tiêu tốn 70W khi bật và 15W khi ở chế độ chờ (stand by). Cả nước có 17 triệu chiếc TV, nếu sau khi xem xong chỉ tắt bằng điều khiển từ xa (remote) thì mỗi năm cũng lãng phí tới 1,9 tỉ kWh, bằng sản lượng của một nhà máy nhiệt điện công suất 300 MW, cần vốn đầu tư cỡ 300 triệu USD.
Dư luận hiện cũng đang hết sức bất bình, bởi mặc dù kêu thiếu vốn, nhưng EVN lại vẫn dành nhiều nghìn tỉ đồng để đầu tư vào mạng điện thoại di động. Năm 2005 Công ty Viễn thông điện lực (EVN Telecom) đã đầu tư 3.000 tỉ đồng để phát triển mạng thông tin di động CDMA. Năm 2006 dự kiến đầu tư khoảng 2.000 tỉ đồng nữa. Cách đây vài ngày, Công ty Thông tin Viễn thông điện lực (ETC) đã cùng với Công ty Tài chính dầu khí, VinaCapital ký hợp đồng nguyên tắc thu xếp thêm 2.000 tỉ đồng cho dự án viễn thông của ETC. Theo tính toán thì tổng đầu tư cho mạng viễn thông của EVN vào khoảng 600 triệu USD (tương ứng gần 10 nghìn tỉ đồng).
Việc chuyển hướng kinh doanh đa ngành là quyền của EVN, phục vụ cho tương lai phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngành điện lực đang định “đè” người tiêu dùng ra để kiếm thêm vốn, thì khoản đầu tư dành cho mạng viễn thông là rất khó chấp nhận. 600 triệu USD có thể xây dựng được 2 nhà máy điện cỡ như Nhiệt điện Uông Bí mở rộng với công suất khoảng 300 MW mỗi nhà máy và cho sản lượng khoảng 3,6 tỉ kWh/năm. Nếu khoản đầu tư này được dành cho các dự án điện thì gần như chắc chắn sẽ không cần tăng giá điện, tránh được một đợt biến động mới về giá trên toàn quốc, đồng thời còn giảm được sức ép thiếu điện, giảm được lượng điện năng phải nhập khẩu và cuối cùng thì EVN cũng đỡ được phần chi phí bù giá điện phải mua ngoài. Bộ trưởng Công nghiệp Hoàng Trung Hải mới đây cũng cho biết sẽ xem xét lại việc đầu tư của EVN vào mạng viễn thông.
Rõ ràng, vẫn còn những cách khác để huy động vốn đầu tư cho ngành điện, việc tăng giá để “huy động sức dân” được ngành điện lựa chọn có lẽ do nó dễ thực hiện hơn cả. Tuy nhiên, tăng giá điện là việc hết sức nhạy cảm, dễ gây biến động tai hại cho toàn bộ nền kinh tế cũng như ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu người dân. Do vậy, với một bên là sức ép về vốn đầu tư, một bên là trách nhiệm đối với xã hội, Chính phủ cần phải có sự lựa chọn hết sức thận trọng. Việc tăng giá điện để bổ sung vốn đầu tư cho ngành điện chỉ nên thực hiện khi không còn cách nào khác