Đề án “1 triệu ha lúa” mở ra chương mới cho nông nghiệp Việt Nam
Không chỉ giảm chi phí sản xuất, Đề án “1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” (viết tắt là Đề án 1 triệu ha lúa) đã mở ra cơ hội đưa gạo Việt tiếp cận phân khúc cao cấp, khi người tiêu dùng toàn cầu ngày càng ưu tiên các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Sau 2 năm triển khai, Đề án “1 triệu ha lúa” đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong nâng cao thu nhập cho nông dân, đồng thời tạo thêm lợi thế cạnh tranh cho hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế.
Mục tiêu của Đề án “1 triệu ha lúa” là đến năm 2025, diện tích canh tác vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp đạt 180.000 ha. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay, diện tích lúa thực hiện Đề án đã đạt hơn 354.839ha, tương đương 197% kế hoạch giai đoạn đầu.
Các mô hình tham gia đề án đều áp dụng đồng bộ nhiều tiến bộ kỹ thuật như giảm lượng giống gieo sạ từ 30 - 50%, giảm khoảng 30% lượng phân đạm và giảm từ 2 - 3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật. Đến nay, 7.493 ha đã được chứng nhận VietGAP, 246 ha đạt chứng nhận hữu cơ và 5.659 ha đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.
Những thay đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình từ 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống.
Theo ông Lê Thanh Tùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), trong bối cảnh thế giới ngày càng quan tâm đến phát triển xanh và giảm phát thải carbon, việc xây dựng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” sẽ là công cụ quan trọng giúp gạo Việt thâm nhập các thị trường khó tính. Để đạt được nhãn hiệu này, nông dân và doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật của Đề án “1 triệu ha lúa”.
Quy trình yêu cầu đồng bộ nhiều giải pháp như rút nước trên ruộng từ 10 - 15 ngày trước khi làm đất, áp dụng cơ giới hóa 100%, giảm lượng giống gieo sạ còn 70 - 80kg/ha, bón phân theo nguyên tắc “4 đúng”, đồng thời tăng cường tái sử dụng rơm rạ sau thu hoạch nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính.
Điểm mới đáng chú ý là sự xuất hiện của công cụ số ViRiCert trong giám sát thực hiện quy trình. Đây là hệ thống quản trị dữ liệu thông minh được tích hợp trên điện thoại di động, cho phép đánh giá mức độ tuân thủ của nông dân và hợp tác xã thông qua tài khoản quản lý riêng, dữ liệu hình ảnh và thời gian nhập liệu cụ thể.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, cho rằng việc ứng dụng công cụ ViRiCert không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn giúp minh bạch hóa quy trình sản xuất, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và tạo thuận lợi trong chứng nhận sản phẩm.
“Việc triển khai thí điểm tại các hợp tác xã giúp nông dân từng bước thay đổi tư duy sản xuất, quan tâm hơn đến ghi chép dữ liệu, tuân thủ quy trình kỹ thuật và nâng cao trách nhiệm đối với mô hình sản xuất xanh”, bà Giang nhận định.
Theo kế hoạch, TP Cần Thơ đang triển khai đề án tại 64 xã, phường với diện tích hơn 170.877 ha cùng sự tham gia của 171 hợp tác xã và tổ hợp tác. Kết quả bước đầu cho thấy mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp hoàn toàn khả thi và phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững.
Không dừng lại ở mục tiêu giảm phát thải, ngành lúa gạo đang hướng đến nâng giá trị thương mại cho sản phẩm. Theo VIETRISA, đến cuối năm 2025 đã có 8 doanh nghiệp được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”, với tổng diện tích hơn 18.000ha, sản lượng đạt trên 71.420 tấn gạo.
Đáng chú ý, Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An đã xuất khẩu hơn 400 tấn gạo mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” sang Nhật Bản với giá 820 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với nhiều dòng gạo thông thường.
Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An, cho biết khi đạt chứng nhận gạo phát thải thấp, doanh nghiệp không chỉ bán được giá cao mà còn giảm đáng kể chi phí sản xuất, qua đó nâng lợi nhuận cho nông dân. Tuy nhiên, diện tích liên kết sản xuất hiện vẫn còn khiêm tốn và cần tiếp tục mở rộng trong thời gian tới.
Ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận định xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang chuyển sang ưu tiên các sản phẩm thân thiện với môi trường. Vì vậy, “gạo carbon thấp” sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam. Tuy nhiên, để xây dựng thương hiệu bền vững, điều quan trọng nhất là tính minh bạch và sự tuân thủ thực chất trong toàn bộ quy trình sản xuất.
Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân phải cam kết “làm thật”, tránh chạy theo hình thức để bảo vệ uy tín thương hiệu quốc gia. Ngoài ra, hệ thống tiêu chí xác nhận trong nước cũng cần sớm liên thông với tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm chi phí thuê đơn vị đánh giá nước ngoài, tăng sức cạnh tranh cho hạt gạo Việt.