Hồ Xuân Hương: Tiếng thơ đối thoại với đời

08:50 29/12/2017
Nghe, biết lắng nghe là cơ sở quan trọng của đối thoại. Nghe để thấu hiểu, thấu hiểu về nhau để thấu cảm lòng nhau nên không nghe thì không bao giờ có đối thoại...


Biết lắng nghe là cả một năng lực văn hóa, bởi về bản chất đấy là một quá trình tiếp nhận, do vậy phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị… để phân tích, tiếp nhận, loại bỏ, phản biện. Cho nên từ cổ xưa, người phương Đông sâu sắc dồn triết lý ấy vào con chữ tượng hình, chữ “Thính” trong tiếng Hán có nghĩa là “nghe” được cấu thành (chiết tự) bởi các chữ mang các ý nghĩa: Vương (coi người nghe mình như vua); Nhĩ (khi nghe phải lắng tai chăm chú); Nhãn (khi nghe phải nhìn người nói thể hiện sự chú ý, tôn trọng); Tâm (nghe bằng cả tâm trí); Nhất (cả người nói và người nghe phải đồng nhất, đồng hướng). Ngày nay, thế giới coi một biểu hiện của khoan dung hòa giải văn hóa là biết lắng nghe nhau!

Từ góc nhìn này ta thấy Xuân Hương là nhà thơ của thính giác. Bà đã chứng minh một quy luật nghệ thuật muốn làm một nhà thơ trước hết phải biết lắng nghe bước đi, sự thay đổi, dù nhỏ nhất của sự vật, từ đó mới có thể nắm bắt được bản chất cuộc sống. Với thi nhân, nghe là một biểu hiện của nhạy cảm nghệ thuật.

Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” (Nguyễn Du), cùng một tiếng khóc, với người khác có thể là nỗi ai oán vì sự mất mát, đau khổ nhưng với Xuân Hương lại nghe thấy đó là tiếng cười chua chát cho thân phận… Ham nghe, thơ bà rất nhạy cảm về thính giác: “Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ” để bước vào đối thoại với tính cách một thách thức mà khẳng định cá nhân mình: “Tài tử văn nhân ai đó tá?/ Thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình I).

“Thiếu nữ ngủ ngày” - minh họa thơ Hồ Xuân Hương.

Hai chữ “văng vẳng” tượng thanh không chỉ văng vẳng trong thơ bà mà còn văng vẳng cái đau khổ, cái bất lực ở thời ấy đến với cuộc đời hôm nay: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” (Tự tình I); “Canh khua văng vẳng trống canh dồn” (Tự tình II); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng” (Dỗ người đàn bà chết chồng); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì” (Bỡn bà lang khóc chồng)…

Rồi là biết bao nhiêu từ tượng thanh khác “rúc rích”, “vo ve”, “tỏm cắc”, “xì xòm”, “thánh thót”, “phất phơ”, “phập phòm”, “lõm bõm”, “lắc cắc”, “long bong”, “phì phạch”, “chũm chọe”, “hi ha”, “hu hơ”…và những bài gieo âm độc chẳng phải là sự gợi ra âm thanh phập phòm, trúc trắc đó sao: “chòm/ hom/ phòm/ bõm/ om/ dòm” (Hang Cắc Cớ), “phòm/ hom/ dòm/ khom/ dom” (Động Hương Tích); “heo/ leo/ kheo/ éo/ teo/ lèo” (Quán Khánh)…

Có nhiều bài được kiến tạo bằng một con đường chủ đạo là âm thanh, với Dệt cửi thì: “Con cò mấp máy suốt đêm thâu/ Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích mau” vừa tượng hình vừa tượng thanh nhưng diễn ra trong đêm nên âm thanh mới tác động đến giác quan người nghe mạnh hơn.

Với Tát nước: “Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa”; có khi ngay tên bài đã thông báo âm thanh, như: Trống thủng; Khóc Tổng Cóc; Khóc ông phủ Vĩnh Tường; Dỗ người đàn bà chết chồng… Thậm chí có bài được âm thanh hóa từ sự vật vô thanh: “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om” (Tự tình I), không phải mõ thật, chuông thật mà là chuông mõ trong tâm trạng cứ vang lên những tiếng thảm sầu. Đấy là Xuân Hương lắng nghe tiếng lòng mình cay đắng, để mà đối thoại với “thân” chưa chịu già!

Từ “ai” (hô ngữ) luôn ngầm ý nghĩa một sự hô ứng, đồng vọng mong muốn một sự sẻ chia ở một đối tượng cụ thể hoặc mơ hồ, xa xôi. “Ai” là khao khát, khắc khoải, chờ đợi, trao gửi, giãi bày... Ca dao có những câu tuyệt hay: “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên vai/ Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn chẳng tắt/ Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên…”.

Hồ Xuân Hương là nhà thơ của chữ “ai”, sử dụng nhiều nhất, đặc sắc nhất, đa dạng và giàu giá trị thẩm mỹ bậc nhất trong văn học trung đại, để rồi sau này “truyền nhân” cho Tú Xương với Áo bông che bạn: “Ai ơi có nhớ ai không/ Trời mưa một mảnh áo bông che đầu/ Nào ai có tiếc ai đâu/ Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô…” và Tản Đà có những chữ “ai” thấu cảm tình người: “Vì ai cho tớ phải lênh đênh/ Nặng lắm ai ơi một gánh tình”. Chữ “ai” như mạch nước ngầm thầm lặng mà thao thiết chảy vào thế giới tâm trạng những tri âm để tìm một đồng cảm, đồng vọng. Đấy chẳng phải là một biểu hiện của khát khao đối thoại sao?

Chữ “ai” trong thơ Xuân Hương là cả một thế giới nghĩa: “Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết?/ Đố ai dám thả nạ dòng dòng” (Cái giếng) là ngầm một sự khẳng định, một sự thách thức. Cũng là “khen” thì “khen” trong “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng” (Đánh đu) là khen thật, nhưng “Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo…/ Hiền nhân quân tử ai mà chẳng…” (Đèo Ba Dội) thì có khi ngược lại.

Đèo Ba Dội là tên gọi khác dân giã, thông tục của đèo Tam Điệp có ba dốc cao nên đi lại là sự leo trèo (cách dùng vần “eo” cũng là sự mô phỏng) vất vả, thế mà lại còn “khen ai” thì là sự ỡm ờ khó biết khen thật hay mỉa mai. Nhưng đến cuối bài thơ cái nghĩa mới ló ra, đằng sau “đèo” là một sự vật khác thì “ai”, “Hiền nhân quân tử ai mà chẳng” là một sự giễu cợt: hiền nhân quân tử ai cũng thế mà thôi, dù “Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo?”.

Cùng nét nghĩa giễu cợt hàm một chút mỉa mai là nhiều “ai khác”: “Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc” (Hang Cắc Cớ); “Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm” (Động Hương Tích); “Trưa trật nào ai móc kẽ rêu” (Chùa Quán Sứ); “Đố ai biết được vông hay trốc” (Vịnh nữ vô âm)… Chính từ chữ “ai” này mà ta có đủ cơ sở để xác quyết rằng giễu cợt mỉa mai là một nét nghĩa chủ đạo trong thơ bà.

Hồ Xuân Hương là một thi sĩ tài hoa.

“Kìa cái diều ai nó lộn lèo!” (Quán Khánh) thì là sự ngạc nhiên ngầm một sự hả hê: cái diều ai chơi (chắc là kẻ “hiền nhân quân tử” nào đó) bị “đứt dây” hay bị “gập” vì gió mạnh mà “lộn lèo”. Nhất là cái diều này lại “buông” ở nơi Quán Khánh chẳng có gì là đẹp với cảnh hắt heo, thiên thẹo, cheo leo, khẳng kheo, uốn éo, leo teo.

“Nào ai có biết nỗi bưng bồng?” (Kẽm Trống); “Nhắn nhủ ai về thương lấy với/ Thịt da ai cũng thế mà thôi” (Trống thủng) là ngầm một sự mong muốn chia sẻ. “Tài tử văn nhân ai đó tá?” (Tự tình) là ngầm mong một đồng vọng, tri âm. “Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ?” (Cảnh thu) là ngầm một sự đồng tình. “Năm canh lơ lửng chờ ai đó?” (Hỏi trăng), một sự trông mong chờ đợi. “Ai về nhắn nhủ đàn em bé” (Dỗ người đàn bà chết chồng), một sự trông chờ, hy vọng. “Hỡi người bẻ quế rằng ai đó” (Trăng thu), một bâng khuâng trống vắng. “Hỡi chị em ơi ai biết không?” (Phận đàn bà) là một giãi bày chua chát. “Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ?” (Bỡn bà lang khóc chồng) đầy hẫng hụt đau đớn. “Ai về nhắn nhủ phường lòi tói” (Mắng học trò dốt II) lại là mong có được một sự hiểu biết, thẳng thắn, chính trực. Cầm lái mặc ai lăm đổ bến…/ Ấy ai thăm ván cam lòng vậy” (Tự tình III) lại là một sự bất lực…

Những chữ “ai” ấy là biến thể của những tâm trạng khát khao được đồng cảm, sẻ chia trong một thế giới hầu như ngưng đọng, tù hãm, mất tự do. Như những bàn tay chìa ra mong được bắt lấy những bàn tay đồng điệu, đồng cảm mà chẳng có, chẳng được đành rút về ngậm ngùi, bất lực, những chữ “ai” của Xuân Hương là một chứng minh cho bi kịch lớn nhất của nhà thơ là sự khát khao được đối thoại mà không được hồi đáp. Khát khao vẫn chỉ là khát khao nên càng đau, càng muốn giãi bày. Vẫn không có lời đồng vọng,…

Con người và tài năng Xuân Hương, những sắc thái tâm trạng của thi sỹ thiên tài Xuân Hương thể hiện rõ nhất trong chùm thơ tự tình. Tất cả lại dồn tụ trong một Mời trầu độc đáo, đặc sắc: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi/ Có phải duyên nhau thì thắm lại/ Đừng xanh như lá bạc như vôi”.

Mời trầu nói với mình cũng là nói với người, với đời, với số phận, là lời mời cũng là lời than, lời trách, lời khuyên răn, lời giận… có cả chua chát ngậm ngùi, cả tin tưởng, hy vọng, cả sự khẳng định… Mời trầu đích thực là đa thoại, đa âm, đa thanh, đa nghĩa. Mời trầu như một tòa lâu đài ngôn ngữ kết cấu tối giản xây cất trên nền móng vững chắc phong tục tập quán chứa chan hy vọng những điều tốt lành của văn hóa Việt, lại có nhiều cửa những cách hiểu để mời gọi những tri âm.

Vượt lên trên mọi đối thoại tiếng thơ Xuân Hương còn đối thoại với thời thế trở thành tiếng nói mang tầm thời đại kêu gọi giải phóng cá tính, giải phóng phụ nữ. Thế nên ở thời ấy và suốt thời phong kiến, thơ Xuân Hương như tiếng sấm đột ngột giữa trời quang vậy.

Nguyễn Thanh Tú

Chỉ trong 2 ngày 17 – 18/2 (mùng 1 và mùng 2 Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026), quần thể di tích và danh thắng Chùa Hương, Hà Nội đã đón khoảng 25.000 lượt du khách về trẩy hội, du xuân. Riêng trong ngày 18/2, lượng khách tăng mạnh, ước tính khoảng 20.000 lượt.

Tại kỳ họp đặc biệt của Quốc hội Nhật Bản ngày 18/2, bà Sanae Takaichi đã được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản, sau chiến thắng áp đảo mang tính lịch sử của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền trong cuộc tổng tuyển cử 10 ngày trước đó. 

Giữa nắng gió khắc nghiệt của châu Phi, cán bộ, chiến sĩ Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Abyei vẫn đón Tết cổ truyền đậm đà bản sắc dân tộc. Xa quê hương hàng nghìn kilômét, họ vừa hoàn thành nhiệm vụ mở đường, kiến tạo hạ tầng, vừa lan tỏa hình ảnh người lính mũ nồi xanh Việt Nam bản lĩnh, nhân ái trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Trở thành điểm hẹn thường niên của khách du xuân đầu năm, Hội chữ Xuân năm Bính Ngọ 2026, Không gian Hồ Văn, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội thu hút đông đảo các bậc phụ huynh, bạn trẻ đến xin chữ, cầu công danh, may mắn trong các kỳ thi.

Nền kinh tế khép lại năm 2025 với những thành công từ nỗ lực vượt trội, mở ra một cánh cửa mới đầy khát vọng cho kỷ nguyên vươn mình. Kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài; mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam là có nền tảng, có dư địa và khả thi…

Giá vàng thế giới đã liên tục giảm trong mấy ngày gần đây, trong khi bảng giá vàng trong nước không có biến động do đang trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Bước sang ngày Mùng 2 Tết Bính Ngọ 2026, thị trường hàng hóa thiết yếu ghi nhận nhịp vận động tích cực hơn sau ngày đầu năm trầm lắng. Dù người dân vẫn ưu tiên các hoạt động du xuân, chúc Tết, lễ chùa và sum họp gia đình, nhu cầu mua sắm, đặc biệt là thực phẩm tươi sống, đã tăng trở lại so với Mùng 1.

Như rễ cây rừng trên đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ cắm sâu vào lòng đất, các cán bộ chiến sĩ CAND vẫn đang ngày ngày miệt mài “bám bản, bám dân” để xây dựng niềm tin yêu của lòng dân trên vùng biên viễn bằng chính những việc làm cụ thể.

Người Saka (hay Scyth) là những người du mục nói tiếng Iran cổ gốc ở Nam Siberia. Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên (TCN), họ di chuyển, chinh chiến khắp vùng thảo nguyên Âu - Á (hiện từ Biển Đen tới Mông Cổ).

Không chỉ là điểm tựa bình yên, động lực cho nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, lực lượng Công an xã tại tỉnh Sơn La cũng đã phát huy vai trò trong đấu tranh, phòng chống tội phạm. Bản ấm, dân yên, đời sống bản làng từng bước ổn định.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文