Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ
Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.
Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867), tự Nguyên Lập, hiệu Đạm Trai, quê ở làng Cát Xuyên, xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa, nay là xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa, là một nhà Nho sống trọn trong thế kỷ XIX, thời kỳ vừa ổn định về thể chế dưới triều Nguyễn, vừa tiềm ẩn nhiều rạn nứt về tư tưởng và xã hội. Ông thi đỗ Hương cống năm Minh Mạng thứ 2 (1821), từng giữ nhiều chức vụ khác nhau: Tri huyện, Viên ngoại lang bộ Hình, Hàn lâm viện Tu soạn, Đốc học Thanh Hóa… nhưng hoạn lộ không hề bằng phẳng.
Ông từng bị giáng chức, chịu án tù và bị sung đi hiệu lực (phục dịch trong phái đoàn ngoại thương của triều đình) ở Quảng Đông. Chính những trải nghiệm này đã định hình một kiểu trí thức không hoàn toàn “phụng sự quyền lực”, cũng không quay lưng với đời sống chính trị. Ông nhập thế, nhưng với một khoảng cách tỉnh táo; tham gia bộ máy, nhưng không đánh mất năng lực phản tỉnh.
Nhữ Bá Sĩ là một người nồng nàn yêu nước. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông nhiều lần dâng sớ tình nguyện tham gia chống giặc. Ông còn sai người nhà võng mình vào tận Nghệ An mưu toan lập căn cứ chống Pháp với các văn thân tỉnh bạn. Việc chưa xong thì ông mất, hưởng thọ 80 tuổi. Theo gương ông, con cháu, học trò, nhiều người tham gia phong trào chống Pháp, hy sinh cho độc lập dân tộc.
Nhữ Bá Sĩ cũng là một trong những nhà Nho sống ở thế kỷ XIX có nhiều trước tác vào bậc nhất, số lượng tác phẩm nhiều, đến nay vẫn chưa thể thống kê đầy đủ. Riêng về đề tài văn học, sử học, thì hai tập “Phi điểu nguyên âm” và “Việt sử tam bách vịnh” của ông được đời sau đánh giá là có nội dung và hình thức đứng đầu.
"Kinh Thi" của lịch sử dân tộc
“Việt sử tam bách vịnh” bao gồm 309 bài thơ, đề cập tới lịch sử nước ta từ thời Kinh Dương Vương đến hết thời Hậu Trần.
Nhiều ý kiến cho rằng số lượng bài thơ vịnh sử là ngầm so sánh với số bài của Kinh Thi là 311 bài, nên tập thơ còn được gọi là Kinh Thi tam bách thủ. Tất cả các bài thơ đều được viết theo thể thất ngôn bát cú một cách nghiêm túc của luật thơ Đường. Mỗi bài thơ trong bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông đều có các phần: Nguyên âm chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, một số bài có bản dịch thơ, và phần chú giải. Do phong cách vịnh sử mượn nhiều điển cố, nên dịch giả đã nỗ lực chú giải hết sức chi tiết để độc giả ngày nay có thể hiểu được từng câu, từng ý.
Trong số 309 chân dung nhân vật xuất hiện trong sách, bên cạnh những vị vua anh hùng như Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Trần Thánh Tông, các danh tướng như Dương Diên Nghệ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… còn có những bài vịnh về những nhân vật chỉ thấp thoáng trong chính sử như Huyền Trân Công chúa, sư Pháp Loa, Yết Kiêu, Hà Đặc, hay cả những viên tướng giặc như Thoát Hoan, Mộc Thạch, Trương Phụ, tạo dựng một bức tranh tổng thể về lịch sử nước nhà suốt mấy nghìn năm lịch sử.
Những nét vẽ bằng thơ về các anh hùng dân tộc
Mỗi nhân vật lịch sử, qua ngòi bút chân thực của Nhữ Bá Sĩ, được mô tả với những nét chấm phá nhưng tiêu biểu nhất.
Điển hình như chân dung Trưng Nữ Vương, với hai câu “luận” trong bài thất ngôn bát cú đã khắc họa đầy đủ chân dung của bà, cũng như đúc kết: "Hùng trang giáp trụ si tâm khổ/ Ngọc toái sơn hà tuẫn tiết cam”
Nghĩa là: “Vì tang chồng nên quân lính đều mặc quân phục màu hồng (đáng ra phải là màu trắng), thật đau lòng. Ngọc nát, núi sông đầy nước mắt, chết theo chàng cũng cam lòng”.
Hay với bà Triệu, ông ca ngợi: “Chung cổ hùng tâm nghiệm tượng đầu/Vị báo thế gian Mai ả phụ/ Mạc kinh từ hạ khủng thần tu”.
Nghĩa là: Tấm lòng của bà mãi chói sáng trên đầu voi đến mai sau. Hãy báo cho những ả họ Mai ở thế gian (thời nhà Trần, những kẻ tôn thất theo giặc Nguyên đều bị đổi sang họ Mai và thường bị chế giễu là “ả họ Mai”) đừng đi qua cửa đền thờ bà, mà làm bà thẹn vì chúng nó. Với vị vua dựng nền độc lập dù ngắn ngủi Lý Nam Đế, Nhữ Bá Sĩ xúc động khen rằng:
“Vãn đắc sơn hà cửu hiểm niên/ Vạn Xuân thống kỷ át trung thiên Lạc Hồng cương vực ly sơ tảo/ Long Đỗ lâu đài nguyệt dục viên” (Dựng dậy dải non sông bị chìm đắm lâu ngày/ Thống nhất nước Vạn Xuân nêu cao giữa trời/ Bờ cõi Lạc Hồng lần đầu quét sạch bầy chồn cáo/ Lâu đài thành Long Đỗ, trăng đã tròn bóng).
Bài thơ vịnh Triệu Việt Vương ghi lại cả khí thế công trạng lẫn nguyên nhân thành bại: “Vị trảo như linh vị tất tường / Cùng lai năng cố tự nhiên cường Súc uy Nhất Dạ nhân nan trắc/ Phấn nhuệ sùng triêu ngã dụng trương Ký thác hướng vô vong Lý Đế / Kỳ khu thùy bất niệm Đào Vương Đồ như giảng cựu phi chân ý / Bại hảo hà dung bệnh Nhã Lang”. (Tạm dịch: Móng rồng có linh chắc đã tường / Khốn cùng cố gắng tự sẽ cường/ Xây uy Nhất Dạ ai dễ đoán / Hăng hái sớm hôm thắng khó lường/ Ký thác không quên lời Lý Đế/ Đường xa chẳng niệm ý Đào Vương...).
Với Ngô Vương Quyền, người mở nền tự chủ dài lâu sau nghìn năm Bắc thuộc, nhà thơ ngợi ca: “Vương nghiệp sáu năm, thiên thu tỏ / Nhắn mãi chớ quên sóng Bạch Đằng”. Với vua Lê Đại Hành cũng vậy, dưới góc nhìn Nho giáo, Nhữ Bá Sĩ tuy khen ngợi nhà vua với những chiến tích kháng Tống, bình Chiêm, giúp sông núi bình yên không kẻ nào dám chống đối, nhưng cũng phê phán nhà vua những điểm mà các sử quan biên soạn “Đại Việt sử ký toàn thư” đã nhắc đến, từ “vì sự gian dâm trong cung mà lấy được nước”, cho đến việc phong vương cho 12 người con, ai cũng ngang ngược, rồi không sớm đặt con nối, để con cái làm loạn bên trong rồi đến mất nước.
Cái nhìn công tâm: Phê bình từ góc độ Nho giáo
Trong bộ “Từ điển văn học”, tập II, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Tú Châu đã khẳng định rằng qua “Việt sử tam bách vịnh”: “Tác giả ca ngợi và đề cao tất cả những anh hùng dân tộc có công với dân với nước, bất kể miền xuôi, miền ngược, trẻ già, trai gái, xuất thân tôn quý hay bần hàn”.
Thông qua những vần thơ, Nhữ Bá Sĩ gián tiếp gửi gắm một thông điệp cho hiện tại: lịch sử không quên, và đạo lý dân tộc là thước đo tối hậu. Lối viết này khiến “Việt sử tam bách vịnh” mang dáng dấp của một “biên niên đạo đức”, nơi lịch sử được phê bình theo quan điểm Nho giáo và tinh thần dân tộc. Điều này cũng cho thấy tác giả không viết lịch sử để an ủi hay ru ngủ, mà để đánh thức ý thức trách nhiệm của người đọc, đặc biệt là tầng lớp trí thức.
Dịch giả của tập thơ, cụ Lê Văn Uông quê ở Thanh Hóa, tốt nghiệp trường Sư phạm Quốc học Huế năm 1937. Trước cách mạng tháng 8, cụ dạy học ở Bình Định, Thanh Hóa. Từ năm 1947-1970, cụ là Thanh tra Tiểu học tỉnh Thanh Hóa, rồi làm giáo viên các trường sư phạm ở Thanh Hóa. Từ năm 1972-1980, cụ được mời thỉnh giảng Khoa Hán Nôm, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cụ là một nhà nghiên cứu Hán Nôm uy tín, là tác giả bản dịch các tác phẩm nổi tiếng như bài “Lam Sơn lương thủy phú”, Văn bia Vĩnh Lăng, truyện “Tùy Đường diễn nghĩa”, đặc biệt là bộ sử “Lam Sơn thực lục”, ghi chép chân xác toàn bộ diễn biến của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Cuốn sách được ra đời từ nỗ lực của ba thế hệ trong một gia đình nhà giáo. Đầu tiên là nỗ lực dịch thuật suốt nhiều năm của học giả Lê Văn Uông, sau đó là công sức chú giải, viết giới thiệu của thứ nam của cụ Uông là thầy giáo Lê Văn Đình (sinh năm 1942, nguyên giáo viên dạy Văn trường PTTH Chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa), cuối cùng là sự kỳ công chỉnh sửa bản thảo của các con thầy Lê Văn Đình là tiến sĩ – kiến trúc sư – nhà văn Lê Thúy Hà cùng con rể là thầy giáo Phạm Gia Huân cho tới khi bản thảo hoàn tất.
Ngay sau khi tập sách được đưa về từ nhà in, gia đình nhà giáo Lê Văn Đình đã lập tức đem sách về làng Cát Xuyên, xã Hoằng Sơn, Thanh Hóa để dâng hương lên bàn thờ họ Nhữ, đồng thời chuyển những cuốn sách mới ra đời đến tận tay những hậu duệ của cụ Nhữ Bá Sĩ vẫn còn sinh sống ở quê, nhằm góp phần gìn giữ và phát huy di sản quý báu mà cụ Đạm Trai đã để lại cho lịch sử đất nước.