Nàng Mạnh Khương phương Đông!

11:07 08/06/2024

Ở các nước tương đồng nhau về lịch sử sẽ có những cổ mẫu giống nhau nhưng không phải là một. Xin bàn đến trường hợp hình tượng nàng Mạnh Khương có ở nhiều quốc gia phương Đông, nhưng đạt đến độ ám ảnh thì ở Việt Nam và Trung Quốc.

1.Truyền thuyết Trung Quốc "Mạnh Khương nữ khốc Trường thành" (Mạnh Khương khóc Trường thành) kể nàng Mạnh Khương sống vào đời Tần (221-207 trước Công nguyên) con nhà giàu có, danh giá. Vừa mới cưới chồng là Phạm Kỷ Lương được ba ngày thì chồng phải đi phu xây trường thành. Mỏi mòn chờ đợi, không thấy chồng về, nàng may áo rét đem cho chồng. Tìm được đến nơi mới biết chồng đã chết. Đau đớn tột cùng, nước mắt người góa phụ chảy thành sông làm sụp đổ cả một đoạn thành dài. Rồi nàng đập đầu vào đá…

Tranh "Mạnh Khương nữ" (Trung Quốc).

Lại có dị bản kể, bị ốm chết vì lao lực, chồng nàng liền bị chôn vào trong trường thành, nước mắt của nàng làm lộ ra xương cốt người xấu số… Căn cứ vào nội dung truyền thuyết thì thời gian câu chuyện sớm hơn nhiều so với thời điểm nhà Tần thống nhất 6 nước, do vậy có thể không phải là "Vạn lý trường thành" mà Tần Thủy Hoàng cho xây dựng. Nhưng đi vào văn chương, câu chuyện trở nên cảm động với màu sắc bi kịch nhân văn thấm thía. Để phù hợp với tính chất bi thương, nhiều bản kể gắn liền với danh từ Vạn lý trường thành và Tần Thủy Hoàng.

Xét trong sử sách, truy ngược về trước thì chuyện về nàng Mạnh Khương lần đầu có trong "Tả truyện" có tên "Kỷ Lương thê" (Vợ Kỷ Lương), kể chuyện võ tướng Kỷ Lương nước Tề bị chết trong chiến tranh. Vợ của ông giữ trung tiết chịu tang chồng. Trong "Liệt nữ truyện", tác giả Lưu Hướng thời Tây Hán cũng viết về vị hiền thê của tướng Kỷ Lương nước Tề. Theo đó, Tề Trang Công đích thân ra trận, tướng Kỷ Lương đi theo hộ vệ nhưng chẳng may bị chết. Tiếc thương một tướng tài, trung nghĩa, Tề Trang Công đưa thi hài Kỷ Lương về tổ chức tang lễ chu đáo. Quá thương chồng, sa vào cảnh không con cái, vợ Kỷ Lương đau đớn khóc nhiều đến mức nước mắt làm đổ sụp một góc thành.

Cuối đời Đường, nhà thơ Quán Hưu viết bài "Kỷ Lương thê", có câu: "Nhất hào thành băng tái sắc khổ/ Tái hào Kỷ Lương cốt xuất thổ" (Khóc lên một tiếng, nơi biên tái mịt mờ sắc khổ/ Khóc lên lần nữa, hài cốt Kỷ Lương lộ ra). Nội dung bài thơ cho thấy gần giống với truyền thuyết nàng Mạnh Khương. Đến đời Tống, tác giả Trịnh Tiều viết: "Kỷ Lương chi thê, vu kinh truyện sở ngôn giả, sổ thập ngôn nhĩ, bỉ tắc diễn thành vạn thiên ngôn" (Vợ của Kỷ Lương, trong kinh truyện chỉ nói có mấy chục lời, nhưng được diễn thành ngàn vạn lời). Ý nói câu chuyện vốn chỉ có "mấy chục lời" nhưng "thiên biến vạn hóa" thành "ngàn vạn lời". Đây là một đặc trưng của truyền ngôn dân gian, chỉ một "cổ mẫu" ban đầu, theo thời gian, được khúc xạ qua nhiều người, câu chuyện biến hóa thành muôn vàn chi tiết, ý nghĩa khác nhau.

Cũng đời Tống, Văn Thiên Tường (1236-1282), khi đến địa danh Sơn Hải quan (nơi dựng miếu thờ nàng Mạnh Khương), có thơ: "Tần hoàng an tại tai/ Vạn lý trường thành trúc oán/ Khương nữ vị vong giả/ Thiên thu phiến thạch minh trinh" (Tần Hoàng há yên chăng/ Muôn dặm trường thành xây oán hận/ Mạnh Khương không chết được/ Ngàn thu phiến đá khắc kiên trinh). Sau này trong "Đường sang nước bạn" (1959), Tố Hữu đồng cảm tiếp nhận ý thơ này: "Văn Thiên Tường ơi!/ Nếu anh sống lại/ Đến bên bờ Bột Hải/ Thăm Sơn Hải Quan/ Anh sẽ không còn khóc mãi/ Nàng Mạnh Khương xưa mùa đông/ Bơ vơ đi mang áo rét cho chồng/ Đắp Trường thành vạn lý!".

Câu chuyện mang một chủ đề tố cáo triều đình phong kiến coi rẻ mạng sống con người; chà đạp lên hạnh phúc lứa đôi; tình nghĩa vợ chồng sâu nặng; nỗi khổ đau của phận người thiếu phụ… Những chủ đề ấy liệu có ánh xạ vào truyền thuyết Việt Nam, gần gũi bối cảnh, không gian, tình huống, tên gọi…?

Đền thờ nàng Bình Khương (Việt Nam)

2.Truyền thuyết "Nàng Bình Khương" (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa) kể công cuộc đắp Thành Nhà Hồ được làm rất gấp rút, khẩn trương. Viên quan Trần Cống Sinh (chồng nàng Bình Khương) được giao phụ trách việc xây dựng đoạn tường thành phía Đông. Nhưng thành cứ xây gần xong lại bị sụt lở. Nghi ngờ cố ý chậm trễ, Hồ Quý Ly bèn ghép Cống Sinh tội làm phản, bèn cho vùi thân chàng vào bên trong tường thành cửa Đông.

Nghe tin chồng bị chôn sống, nàng Bình Khương vội vã tìm tới. Nhưng chồng đã chết, quá đau đớn, nàng đập đầu vào đá kêu oan. Cái chết đau đớn, tiết liệt đã đánh thức lương tri. Triều đình cho điều tra lại bằng cách đào sâu xuống dưới thì phát hiện ra mạch nước ngầm… Cống Sinh được giải oan. Nhưng nàng Bình Khương không thể sống lại. Dân bèn lập đền thờ tạm…

Đến năm 1903, tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh  đêm ấy nằm mộng gặp người phụ nữ khóc lóc rũ rượi bèn hỏi mới biết đó là nàng Bình Khương. Ông liền cho quyên tiền xây dựng ngôi đền thờ khang trang tưởng nhớ tấm lòng liệt nữ, cho dựng bia nhắc đời sau nhớ về đôi vợ chồng đáng kính trọng mà chết oan uổng: "Tấm lòng trinh tiết in vào đá/ Lưu mãi muôn đời vạn tiếng thơm". "In vào đá" bằng cả nghĩa đen, nghĩa bóng. Những dòng chữ ấy khắc vào một tảng đá còn in dấu tay và đầu nàng Bình Khương.

Theo sử sách thời vua Gia Long (1816), "Góc Đông Nam thành có một phiến đá lớn, ở giữa lõm xuống như hình đầu người, hai bên có hai vết lõm nhỏ như hình đôi tai. Lại thấy hai bên có hai vết lõm như in hình đôi bàn tay người, còn thấy rõ hình ngón tay". Lại có truyền thuyết, ở đời vua Đồng Khánh (nhà Nguyễn), lo sợ dân gian truyền tin đồn về dấu tay và đầu nàng Bình Khương sẽ ảnh hưởng đến trị an của làng, viên hào lý nọ bèn thuê thợ đục cả phiến đá đem chôn. Nhưng sau đó, người thợ bỗng nhiên mắc bệnh mà chết. Viên hào lý cũng chết một cách bí ẩn. Sự việc truyền lên đến huyện lệnh, viên Tri phủ Đoàn Thước bèn sai thay vào tảng đá khác, có khắc dòng chữ: "Trần triều Cống Sinh - Bình Khương nương, phu nhân chi thạch" (Đá này khắc ghi chuyện nàng Bình Khương, vợ Cống Sinh, triều Trần).

Hai truyền thuyết ở hai vùng văn hóa, có chung mô típ, tình huống, sự kiện, nhân vật, nhưng khác về thời gian, chi tiết. Không loại trừ có sự ảnh hưởng qua tiếp biến, giao lưu giữa hai nước gần gũi. Nhưng cách lý giải sự giống nhau dễ chấp nhận đó là do tương đồng lịch sử: đều chung sự kiện xây trường thành (Vạn lý trường thành và Thành nhà Hồ); tương đồng tình huống bi kịch: người vợ tìm đến thì chồng đã chết oan khốc; tương đồng nỗi đau không gì bù đắp: chồng chết thì vợ chết theo…    

Cái lõi truyền thuyết là sự thật nhưng bao phủ sự thật ấy là lớp lớp ánh hào quang hư cấu, tưởng tượng, thêu dệt… Không ai có thể bóc hết những lớp vỏ bọc ấy nên chỉ còn cách lật mở một vài lớp nghĩa của biểu tượng mà thôi.

Một là, xây dựng "trường thành" để bảo vệ một cơ quan đầu não của chế độ nên đó là công việc to lớn, khó khăn, gian nguy, tốn kém, thường biểu tượng cho công việc quốc gia, đại sự. "Vạn lý trường thành" bên Trung Quốc hay "Thành nhà Hồ" ở Việt Nam là rất tiêu biểu. Những cái chết tận cùng oan khốc của dân phu là biểu trưng cho sự hy sinh vô ích và vô nghĩa cho chế độ phong kiến. Đó là sự tố cáo, lên án, kết án của dân cùng chống lại cường quyền.

Phải chăng còn một ý này: "trường thành" còn là biểu tượng cho sự trở ngại, chông gai, những chướng ngại vật trong cuộc đời mà con người, nhất là những đôi vợ chồng trẻ phải vượt qua. Nếu không vượt qua sẽ là bi kịch (!?).

Hai là, nước mắt nàng Mạnh Khương chảy thành sông tức nỗi đau mất chồng (của người phụ nữ xưa) là nỗi đau lớn nhất, thảm khốc nhất. Nếu không có con (trai) mà chồng chết thì người vợ sống không bằng chết nên cũng chết theo. Ngoài ca ngợi tình nghĩa vợ chồng còn ngầm lên án xã hội bất bình đẳng nam nữ.

Ba là, tên/hình dáng nhân vật được khắc vào đá như một sự vĩnh cửu hóa, bất tử hóa tình nghĩa con người. Vì đá thì còn mãi…!!!

Nguyễn Thanh Tú

Chiều 20/2 (tức mùng 4 Tết), người dân từ các tỉnh thành đã dần quay trở lại Thủ đô dù chưa kết thúc kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Tuy nhiên, ghi nhận của PV Báo CAND tại khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô, tình hình giao thông diễn ra thuận lợi, người dân đi lại thông suốt. Lực lượng CSGT cùng với Công an cơ sở ứng trực tại tất cả các điểm nút ra vào thành phố để đảm bảo TTATGT cũng như triển khai thêm thiết bị công nghệ cho hoạt động giám sát, xử lý vi phạm giao thông trên tuyến.

Trong ngày 20/2 (mùng 4 Tết Bính Ngọ), người dân từ các tỉnh đã dần quay trở lại Thủ đô sớm song tình hình giao thông tại Hà Nội và các cửa ngõ được ghi nhận là khá thuận lợi và thông suốt, không xảy ra ùn tắc nghiêm trọng kéo dài như những năm trước.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文