Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt trong thơ

15:00 25/08/2022

Trong hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta đã thể hiện sức sống mãnh liệt bằng việc không bị đồng hóa bởi phương Bắc. Nền văn hóa Việt Nam, trong đó có Tiếng Việt đã giữ vững tính độc lập của mình. Điều đó ai cũng biết và là niềm tự hào của chúng ta.

Tuy nhiên, trong văn hóa và đặc biệt là ngôn ngữ, những hiện tượng giao thoa do lịch sử tạo ra là một điều có thật. Cần nhìn nhận hiện tượng đó một cách khách quan và quan trọng hơn là tận dụng những mặt tích cực của nó, chứ không nên và không thể tùy tiện phủ nhận.

Việc trong Tiếng Việt đã và đang tồn tại một bộ phận không nhỏ từ Hán Việt là một hiện tượng như thế.

Còn nhớ, ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người luôn đề cao việc giữ gìn sự trong sáng cho Tiếng Việt bằng cả lời nói và việc làm, ví dụ như  Người luôn dùng từ “vẻ vang” thay cho từ “vinh quang”, gọi phong trào thi đua của phụ nữ là “ba đảm đang” thay vì “ba đảm nhiệm” v.v... tuy nhiên, cũng chính Người lại nhắc nhớ rằng không vì thế mà máy móc đến mức gọi “độc lập” là “đứng một” chẳng hạn.

Từ Hán Việt là những từ ngữ gốc Trung Quốc du nhập vào Tiếng Việt từ thời Bắc thuộc, tức hàng ngàn năm trước và một khi đã tồn tại đến hôm nay là nó đã có một sức sống ổn định, được hòa tan và thuần hóa bởi bản ngữ, đã mặc nhiên có chỗ trong đời sống tinh thần của người Việt. Việc tiếp thu và thuần hóa ấy chỉ có lợi cho tiếng Việt mà thôi.

Các nhà thơ (từ trái qua): Huy Cận (1917 - 2005), Xuân Diệu (1916 - 1985), Quang Dũng (1921 - 1988) là những bậc thầy trong sử dụng từ Hán Việt.

Riêng trong văn học, từ Hán Việt có một vị trí đáng trân trọng. Sắc thái biểu cảm của từ Hán Việt nghiêng về phía cổ kính, trang nghiêm, có khi đến như đường bệ mà ngay cả những từ thuần Việt mặc dù hoàn toàn đồng nghĩa cũng thường không có được. Xin dẫn vài thí dụ:

Trong bài thơ “Đẹp xưa” của Huy Cận, bên cạnh những câu thuần Việt đến mức tinh tế:

Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang

Tiếp theo là những câu dùng từ Hán Việt rất đắc địa:

Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi, khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu

Đúng là “đẹp xưa”, những từ Hán Việt như “lữ thứ”, “tràng đạc”, “tịch liêu” quả có góp phần làm cho không khí bài thơ nhuộm màu cổ kính tiêu tao. Cũng như vậy, Huy Cận có hai câu:

Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu

Câu thứ hai không chỉ có từ Hán Việt mà cấu trúc ngữ pháp cũng là của Hán ngữ - đặt tính ngữ trước danh từ. Và khỏi nói, một giọng thơ, lời thơ như thế mang đậm màu sắc phương Đông cổ như thế nào. Nếu thay thế chúng bằng những từ thuần Nôm chắc không khí sẽ khác đi, tựa hồ như đọc văn chương phương Đông qua bản dịch tiếng Tây chẳng hạn.

Xuân Diệu cũng là một bậc thầy trong phép đưa từ Hán Việt vào thơ mà cả hai thứ ngôn từ Việt và Hán đều nhuần nhuyễn, hỗ trợ cho nhau, chẳng hạn trong bài thơ có cái tên đặc Hán Việt “Nguyệt cầm”:

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Chỉ với một từ “nương tử”, những câu thơ bỗng trở nên cổ kính và sang trọng lạ thường, sang trọng và trang trọng. Nhưng trang trọng mà đến đường bệ là khi nhà thơ cực tả phút giây tình tự của đôi trai gái giang hồ trong “Lời kỹ nữ”:

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn

Những từ “hoàng tử”, “viễn xứ”, “ngự” đã góp phần biến tình yêu ở đây thành một thứ nghi lễ thiêng liêng. Và nếu bàn về nội dung thì có thể nói rằng những câu thơ với từ ngữ như thế đã bày tỏ rất nhiều về thái độ của tác giả trước một thực tế mà hầu như cả xã hội đều nhìn nhận ngược lại. Và chúng đã bày tỏ một cách hữu hiệu vô cùng vì vẻ đẹp của chính ngôn từ mà ở đây có sự đóng góp của các từ Hán Việt. Thi sĩ Bích Khê cũng dùng một lối nói như thế khi bày tỏ lòng ngưỡng mộ không cùng của mình trước vẻ đẹp cao siêu của những bức “tranh lõa thể”:

Ô! Tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đem triển lãm cả tấm thân kiều diễm...

Hãy thử thay một từ “xiêm áo” thôi bằng từ thuần Việt như “quần áo”, hoặc “áo xống” chẳng hạn, thì liệu câu thơ sẽ như thế nào? Rõ ràng từ cao quý sang dung tục chỉ cách nhau có một từ, mà lại là từ đồng nghĩa hoàn toàn! Trong văn cảnh ấy, từ Hán Việt là cách lựa chọn tối ưu. Nhưng nếu ở một trường cảm xúc khác, với một thi sĩ khác, Hồ Xuân Hương chẳng hạn, trong bức tranh “Thiếu nữ ngủ ngày”, thì những từ nôm na lại tỏ ra thích hợp hơn, mặc dù thi sĩ này sống trước hàng thế kỷ và trình độ Hán ngữ chắc là cao hơn gấp bội.

Sau năm 1945, trong hoàn cảnh mới, xu thế chung trong sử dụng ngôn ngữ là giảm dần từ Hán Việt, điều đó có lý của nó, nhưng cự tuyệt hẳn từ Hán Việt là điều không thể. Trong thơ chẳng hạn, nhất là giai đoạn đầu kháng chiến, hơi hướng của từ Hán Việt còn khá mạnh. Chúng ta hẳn còn nhớ mấy câu thơ ngang tàng của chàng thi sĩ trẻ Chính Hữu trong những ngày mới bước chân vào quân ngũ và cũng là nghiệp thơ:

Những chàng trai chưa trắng nợ phong trần
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

Đúng là phong vị của “Chinh phụ ngâm” với rất nhiều từ Hán Việt.

Tôi nghĩ rằng, trong nhiều yếu tố làm nên thành công của kiệt tác “Tây tiến” của thi sĩ Quang Dũng có sự đóng góp của những từ Hán Việt. Trong phần trước ta đã nói đến từ “xiêm áo” từng làm nên vẻ cao quý trong bức “tranh lõa thể” của thi sĩ tiền chiến Bích Khê, thì với nhà thơ Vệ quốc quân Quang Dũng nó vẫn có chỗ như thường:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nếu có gì bị coi là chối tai thì phải sau đó vài ba năm, khi hệ thống tuyên huấn có phần cứng nhắc tác động mạnh vào văn chương, chứ thoạt đầu từ lính tráng đến thường dân người người đều thích cái khẩu khí lãng mạn mà bi hùng của đoàn quân Tây Tiến:

Một lần nữa ta lại thấy những “viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc hành” phát huy tác dụng như thế nào. Thực ra với một từ như “khúc độc hành”, người đọc bình thường chưa chắc mấy ai đã hiểu tận tường đầu cua tai nheo ra sao, cũng chỉ là cảm thấy lờ mờ, đại khái “độc” là “một mình”, còn “hành” là “đi”... “đi một mình” thì hẳn buồn bã, cô đơn là cái chắc, thế thôi. Nhưng ở đây, âm hưởng mới là quan trọng - từng từ một vang lên mạnh mẽ, hào sảng không gì thay thế được. Và đó là một trong những thuộc tính hàng đầu của thơ. Yêu “Tây tiến”, thực sự chúng ta phải biết ơn kho từ ngữ phong phú của Tiếng Việt, trong đó có bộ phận từ Hán Việt, đã cung cấp cho  thi sĩ thứ chất liệu quý báu để tạo nên kiệt tác thi ca.

Anh Ngọc

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文