Sử dụng khẩu ngữ trong thơ

15:34 19/05/2022

Văn chương có thể dùng toàn những ngôn từ sách vở mỹ miều mà vẫn phản ánh đúng hồn vía của đời sống, như kịch Sêchxpia, tiểu thuyết Huygô... chẳng hạn. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn từng có một nhận xét rất tinh về ngôn ngữ của các nhân vật trong vở kịch "Hòn đảo thần Vệ nữ": "Các nhân vật của vở kịch này tuy xuất thân là nông dân, là người lao động ít học nhưng vẫn nói một thứ ngôn ngữ hoa mỹ như sách vở, ấy vậy mà lại rất ăn nhập với không khí trang nghiêm và sang trọng đến mức cổ điển của vở kịch".

Nói đi thì như vậy, nhưng nói lại thì sao?

Có một câu chuyện mà tôi không nhớ là đã đọc hay nghe được ở đâu, kể rằng: Một lần, Napôlêông và thuộc hạ bị quân địch vây khốn, tình thế hiểm nghèo đến nỗi những tướng lĩnh dày dạn trận mạc của ông cũng không giữ nổi bình tĩnh, đúng lúc ấy, khi nghe có ai đó hốt hoảng kêu lên một tin dữ, vị hoàng đế kiêu hùng của nước Pháp liền quát to, độc một tiếng "Cứt!".

Chính là tiếng chửi cộc cằn tột cùng biểu cảm của thứ khẩu ngữ dân dã ấy đã nói lên tất cả tính cách của con người sắt đá này và trong hoàn cảnh ấy nó còn làm được hơn cả một liều thuốc an thần cho đám bộ hạ đã mất hết tinh thần. Chắc là sau đó Napôlêông đã chiến thắng trận ấy vì trong đời ông chỉ thua có vài trận, trong đó có trận cuối cùng mà thôi!

Như vậy là đã rõ: Một nhà văn, nhất là nhà văn hiện đại, không thể không biết dùng đến khẩu ngữ. Bởi vì khẩu ngữ không gì khác hơn là linh hồn và tâm tính của quảng đại quần chúng được thể hiện ra một cách hồn nhiên nhất, sống động nhất như cuộc đời vốn thế.

Dùng khẩu ngữ đúng ngữ cảnh luôn nâng cao giá trị của tác phẩm. Đại thi hào Nguyễn Du và nhà thơ Hồ Xuân Hương luôn là đại diện tiêu biểu nhất khi dùng khẩu ngữ trong thơ.

Trước hết, trong văn xuôi: Vai trò của khẩu ngữ quan trọng đến nỗi nó đủ sức giúp ta phân biệt một nhà văn thực sự và một cậu học trò đang tập "làm văn". Điều này thể hiện rõ nhất trong những câu đối thoại, đến mức nhiều khi chỉ cần liếc qua vài câu đối thoại là tôi đã hầu như biết chắc chắn người viết có tài văn hay không. Bởi vì đơn giản khi đối thoại con người phải nói ngay, nói không có chuẩn bị nên ngôn ngữ hồn nhiên và mang tính đời thường nhất. Các bạn có thể lật dở bất cứ trang văn xuôi nào cũng sẽ thấy điều ấy.

Bây giờ ta thử xem xét việc dùng khẩu ngữ ở trong thơ.

Đã đành là cũng có những loại thơ có tính truyện, thơ tự sự..., nhưng kiểu gì thì bản chất của thơ vẫn là tiếng nói tâm hồn của một cá nhân trữ tình, nên ngôn ngữ thơ cơ bản là thứ ngôn ngữ đã trau chuốt, chắt lọc trên cái nền của ngôn ngữ đại trà. Tuy nhiên, không hiếm trường hợp ta vẫn bắt gặp cách dùng khẩu ngữ rất tài tình ở những nhà thơ giàu bản lĩnh. Ta biết, Nguyễn Du là một thi sĩ đã tôn vinh vẻ đẹp của Tiếng Việt bằng vô số những vần thơ rực rỡ và sang trọng: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng ...". hay "Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san...".

Ấy vậy mà khi cần, nhà thơ xuất thân đại quý tộc này vẫn biết cách đặt vào miệng nhân vật của mình những từ ngữ hàng tôm hàng cá chính hiệu, chẳng hạn mấy lời chửi bất hủ của mụ Tú Bà :

"Bảo rằng đi dạo lấy người
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn
Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma
Con kia đã bán cho ta
Nhập gia thì cứ phép nhà ta đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe
Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao..
.".

Đúng là cả một xêri khẩu ngữ vỉa hè được ném ra đến tối tăm mặt mũi, và chính nhờ tính khẩu ngữ ấy mà thứ ngôn từ này mang màu sắc hiện đại kỳ lạ, ngỡ như những tay du côn du kề hôm nay cũng chưa phát minh ra cách nói gì khác hơn được thế. Sức sống của khẩu ngữ cũng ghê gớm đấy chứ. Có phải vì thế mà khi bình đoạn thơ này, Xuân Diệu đã kêu lên: Mụ Tú Bà chửi từ hàng trăm năm trước mà tưởng như nước bọt của mụ còn văng đến tận bây giờ, tưởng như mụ chửi rách cả trang giấy Truyện Kiều!

Đấy là Nguyễn Du, một cậu ấm, một viên quan Chánh Sứ. Còn như với một thi sĩ quái kiệt vốn là hồn vía của thập loại chúng sinh như Hồ Xuân Hương thì khỏi phải bàn. Chắc chắn mấy chú học trò quen mở mồm là "chi hồ giả dã" không ít phen phải đỏ mặt tía tai bỏ chạy khi nghe những:

"Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa...".

"Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu…".

"Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa...".

Trong thơ hiện đại, xu thế dùng khẩu ngữ càng phát triển hơn và đó là điều tất nhiên. Một nhà thơ thoát thai từ Thơ Mới, đầy duy mỹ như tác giả "Tây Tiến" với những "Sông Mã gầm lên khúc độc hành" và "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"... mà có lúc cũng bỗ bã như ai, với "Heo hút cồn mây súng ngửi trời"...

Nhưng phải đến từ thế hệ chống Mỹ trở đi thì có lẽ việc đưa lời ăn tiếng nói của đời thường vào thơ mới ăn sâu vào ý thức người viết. Hình như đó là sự cố tình khinh mạn quay lưng lại thứ văn phong sách vở, thói cố ý "làm văn" mà con người hôm nay rất dị ứng. Xin dẫn vài ví dụ, gọi là hú hoạ: Trong "Chồng chị, chồng em", một bài thơ thú vị của Đoàn Thị Lam Luyến, nữ sĩ này đã tạo được một giọng điệu không thể lẫn nhờ vào lối nói thẳng thừng đầy sức sống của đời thường, kiểu như: "Cái giần vục phải cái sàng/ Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau". Ở một tập thơ khác có cái tên đặc khẩu ngữ "Dại yêu", chị vẫn giữ đúng một giọng như thế: "Em đầy ngộ nhận như tôi/ Cũng yêu chí chết cái người mình yêu...".

Tôi nghĩ, một cách lựa chọn giọng điệu như thế là phù hợp với tạng của người viết này. Đối với nhà văn, giọng điệu quan trọng đến mức sống còn bởi nó góp phần quyết định để nhận diện một cây bút. Nhà thơ Nguyễn Duy có lẽ cũng là một người đi theo con đường này. Tôi cho rằng cùng với chất trào lộng, mặt mạnh nhất trong thi pháp thơ Nguyễn Duy là khả năng sử dụng khẩu ngữ của đời thường, như anh đã tuyên ngôn trong lời mở đầu một tập thơ có cái tên đặt rất đích đáng "Bụi" : "Đừng chê anh khoái bụi đời/ bụi dân sinh ấy bụi người đấy em/ xin nghe anh nói cực nghiêm/ linh hồn cát bụi ở miền trong veo...".

Nguyễn Duy đã gặt hái được khá nhiều khi đem chất bụi ấy vào thơ. Nhưng có lẽ tính mức độ vẫn là điều khó nhất, và tiếc thay, đôi lúc cũng lại là quan trọng nhất trong sáng tạo nghệ thuật. Không ít lần nhà thơ Nguyễn Duy đã quá đà, để cho cả hai thứ đặc sản của anh là chất hài và chất bụi quay lại làm hại anh. Điều đó chắc hẳn chính anh cũng biết.

Anh Ngọc

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文