Thơ Lê Xuân Sơn: Từ nhãn quan nhà báo đến trái tim thi sĩ

10:38 28/06/2025

Với tập thơ vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành quý I/2025, ta thấy gương mặt thi ca của Lê Xuân Sơn (cựu Tổng biên tập Báo Tiền phong) hiện dần lên với nhãn quan của một nhà báo nhưng có trái tim thi sĩ đầy mẫn cảm.

Bài thơ "Đã từ lâu tôi là người thành phố" được lấy làm tựa đề cho tập thơ, giống như một bản hòa âm lặng lẽ, sâu lắng về nỗi hoài niệm quê hương, về sự chuyển dịch căn cước từ người nông thôn thành người đô thị, và về nỗi lo canh cánh trong lòng một người đã đi xa gốc rễ của mình quá lâu.

Bài thơ này là một lời tự sự đầy trăn trở, da diết nhớ về tuổi thơ và quê hương, nơi đã từng gắn bó máu thịt với tác giả. Trong đó, "thành phố" không chỉ là một không gian sống, mà còn là một ẩn dụ cho sự xa rời cội nguồn, sự hiện đại hóa lạnh lùng khiến con người dễ lãng quên nơi mình "chôn rau cắt rốn".

Bài thơ "Đã từ lâu tôi là người thành phố" là một bản giao hưởng của ký ức và bản sắc, là lời thì thầm nhắc con người đừng quên nơi mình sinh ra, đừng để căn cước bị xóa nhòa chốn đô thị phồn hoa.

Nhà thơ Lê Xuân Sơn.

Chuyển hóa chất liệu báo chí thành thi ca thế sự

Thơ của Lê Xuân Sơn thường khơi nguồn từ hiện thực và đời sống xã hội hôm nay. Trong đó, có một số bài thơ bắt đầu như từ một bản tin báo chí đã được chuyển hóa thành thi ca. Đáng chú ý, bài thơ "Có khi chúng ta là virus?", ngay từ nhan đề, nhà báo Lê Xuân Sơn đã đưa ra một câu hỏi không chỉ tu từ mà còn như một bản cáo trạng nhân văn. Với nhãn quan của một người chứng kiến thời cuộc, anh không miêu tả thiên tai như những hiện tượng đơn lẻ, mà xâu chuỗi chúng lại như hệ quả tất yếu của hành vi con người.

Dưới cái nhìn của một cây bút thời sự, bài thơ đã tổng hợp toàn cảnh những bất thường của khí hậu như: "Lửa cháy rừng", "Mưa giông trái mùa", "Tuyết rơi giữa hè", "Nước biển dâng", "ôzôn thủng nặng"… Tất cả đều hiện lên như dữ liệu, nhưng trong lời thơ, chúng không lạnh lùng mà rớm lệ. Chất liệu báo chí làm đầy đặn thực tiễn, còn tâm hồn thi sĩ biến chúng thành nỗi lo, nỗi đau.

Với lối viết dung dị nhưng ám ảnh, kết tinh của nhà báo - thi sĩ, Lê Xuân Sơn không viết bài thơ này như một tiếng gọi cảm xúc thuần túy. Anh viết nó như thể đang "soạn một bản tin cuối cùng của Trái đất", với câu chữ giản dị, đôi khi dửng dưng đến lạnh người, nhưng chính sự điềm tĩnh đó lại khiến bài thơ trở nên nghẹn ngào.

Ở đoạn thơ đầu: "Màn trời đen, trăng sao chẳng có/ Một bầu trời không thấy trăng sao". Không hề cầu kỳ. Nhưng sự vắng mặt của trăng sao, một hình ảnh tưởng chừng thơ mộng, lại trở thành dấu hiệu của sự bất ổn tự nhiên. Bầu trời mất đi ánh sáng thiên nhiên, chỉ còn ánh sáng nhân tạo là biểu tượng cho việc con người đang che lấp cả thiên nhiên bằng công nghiệp.

Câu thơ đắt giá nhất của bài thơ như một câu hỏi: "Người sẽ qua đời vì ta là virus đó chăng?!". Ở đây, Lê Xuân Sơn không gọi con người là "hung thủ", mà đặt ra một khả thể. Như một nhà báo đưa ra nghi vấn điều tra nhưng là điều tra chính giống loài mình. Câu hỏi đó, chứa cả sự run rẩy của nhân tính và sự tỉnh táo của lý trí.

Với thông điệp sâu sắc: Khi nhân loại trở thành mầm bệnh cho Mẹ Trái Đất, bài thơ của Lê Xuân Sơn là một lời tự vấn, một tiếng chuông cảnh tỉnh cho nhân loại. Trong dịch bệnh COVID, trong biến đổi khí hậu, trong rối loạn tự nhiên, con người có còn là nạn nhân hay đã trở thành tác nhân? Với hình ảnh Trái đất như một người mẹ đang "bạo bệnh", bài thơ khiến người đọc ngỡ ngàng, bởi nếu ta là virus, thì Trái đất không chết vì thiên tai, mà vì chính những đứa con mình mang nặng đẻ đau.

Bằng cách đưa ra câu hỏi, chứ không kết luận, Lê Xuân Sơn đã để lại dư âm dài hơn cả một bài thơ kết thúc. Người đọc mang câu hỏi ấy theo hành trình sống và buộc phải sống có trách nhiệm hơn. Khi ngôn ngữ báo chí hòa điệu với linh hồn thi ca "Có khi chúng ta là virus?" không chỉ là một bài thơ sinh thái, mà còn là một bài xã luận bằng thơ. Tác giả viết không để khóc thương, không để đổ lỗi mà để kéo người đọc về phía nhận thức và tỉnh ngộ.

Lê Xuân Sơn bằng ngòi bút báo chí và trái tim thi sĩ đã không nói to, nhưng lời thơ anh như thì thầm bên tai từng người: "Nếu ta còn tồn tại, ta hãy sống như kháng thể và đừng là virus nữa". Nhưng các bài thơ thế sự kiểu này cũng đặt Lê Xuân Sơn vào thế, đôi khi giàu chất hiện thực mà lại thiếu chất thơ, đòi hỏi anh phải có những điều chỉnh về mặt ngôn ngữ thơ.

Vượt lên với vẻ đẹp lãng mạn của lục bát trữ tình

Không chỉ mạnh ở thể loại thơ trữ tình thế sự, Lê Xuân Sơn còn là một cây bút trữ tình lãng mạn khá say đắm ở thể loại lục bát. Anh viết lục bát với giọng điệu nhẹ mà sâu, dân gian mà hàm ngôn triết lý. Các câu thơ thường chất chứa nỗi buồn nhân thế, tiếng thở dài về sự đổi thay, chia ly và cõi người mênh mang. Với hình ảnh đời thường mà chạm được cái phi thường, thơ anh là lời thủ thỉ của một tâm hồn từng trải, không phô trương mà lắng đọng:

Tàn nhang cong dáng cây cầu
Nửa vin đời thực, nửa vào hư vô

                     (Trăm ngày tiễn mẹ)

Hai câu thơ mở ra hình ảnh vừa cụ thể vừa siêu thực. "Tàn nhang" là vết dấu của nén hương thắp trên mộ mẹ, được ví với "dáng cây cầu cong", gợi nên sự kết nối giữa hai bờ thời gian: quá khứ với hiện tại, trần thế với âm gian. Câu sau mang chiều kích triết lý: "nửa vin đời thực, nửa vào hư vô". Kiếp người được nhìn như một hiện hữu dở dang khi một nửa còn lẩn khuất trong đời thường, một nửa đã hóa hư vô, tan vào cõi không. Câu thơ là lời tiễn biệt mẹ, nhưng cũng là tiếng thở dài cho kiếp nhân sinh mong manh, mờ ảo.

Phẩm chất thi sĩ trên còn đọng lại ở các câu lục bát sau:

Vườn ai sót ngọn cải ngồng
Mắt ai giờ đã như sông vắng đò

                      (Ta về)

Cặp lục bát này nhẹ như một tiếng thở, man mác như khói lam chiều. "Ngọn cải ngồng", một hình ảnh quê nhà thân thuộc trở thành chứng tích của sự vắng bóng, của một ai đó từng gắn bó nhưng giờ đã xa. "Mắt ai giờ đã như sông vắng đò" là hình ảnh rất gợi khi đôi mắt không còn ánh nhìn, như dòng sông hiu quạnh chẳng còn người ghé bến. Câu thơ là một tiếng vọng của nỗi nhớ, của sự chia xa và những trống trải không thể gọi thành tên.

Lòng người nào rõ nông sâu
Bằng như rút ván qua cầu, trầu ơi!

           (Trầu không)

Tập thơ của nhà thơ Lê Xuân Sơn.

Câu lục bát này mang màu sắc dân gian đậm nét với hình ảnh "rút ván qua cầu" ví von tinh tế về sự tráo trở, phũ phàng của lòng người. Tiếng gọi "trầu ơi!" ở cuối không chỉ là cách gieo vần dân dã, mà còn như tiếng thở than, tiếng gọi hư vô tạo nên dư vang da diết. Câu thơ vừa nhẹ nhàng mà cay đắng, chất chứa nỗi niềm của kẻ trải đời. Những câu thơ hay như trên không phải là hiếm trong trường thơ trữ tình của Lê Xuân Sơn.

Cũng thi mạch lục bát ấy, ở bài viết về cố nhà thơ Hữu Loan, Lê Xuân Sơn lại có một chiêm nghiệm khác: "Ngang như ông, thẳng như ông/ Vẫn ngay, vẫn sững giữa giông bão đời/ Giờ thì mây gió dạo chơi/ Ông qua Vân Lỗi một thời khổ công?/ Tím sim áo có lành không/ Còn theo hoa lúa trên đồng cố hương?/Vân du Đèo Cả lên đường/ Chí trai Thanh thỏa bốn phương vẫy vùng/ Chẳng còn tương ngộ, tương phùng/ Cọp rừng mà chịu lâm chung ở nhà/ Khóc người như khóc mẹ già/ Bồng Lai giờ đã một nhà đoàn viên/ Mười năm về với cảnh tiên/ Tiếng thơ còn vọng triền miên cõi trần".

Một bài thơ tri ân, tiễn biệt tuy ngắn mà dày, như một nén nhang thơ gửi đến một tượng đài thi ca bất khuất. Lê Xuân Sơn khắc họa tiểu sử nhà thơ Hữu Loan bằng cảm xúc, viết bằng niềm kính trọng, và bằng lòng yêu mến một tâm hồn "cứng như đá và mềm như hoa sim" của ông. Đọc bài thơ này, ta không chỉ tiếc một con người đã ra đi, mà như được đứng trước tượng Hữu Loan lặng im giữa núi đồi Vân Lỗi.

Ở một góc nhìn khác, Lê Xuân Sơn sử dụng thể thơ lục bát thuần Việt để truyền tải thông điệp một cách mộc mạc nhưng đầy chất thơ. "Áo nâu ra đảo" là một bài thơ lục bát nhẹ như tiếng mõ, sâu như lời kinh, nhưng vang vọng tinh thần yêu nước lặng thầm và cao cả. Tác giả đã chọn một hình ảnh rất đặc biệt: những nhà sư là người tu hành đã mang đạo tâm ra với đảo xa, như mang ánh từ bi thắp sáng những chòi canh Tổ quốc giữa đại dương: "Vào chùa mà chẳng lánh đời/ Các thầy đau đáu biển khơi nước mình/ Trong từng tiếng mõ, câu kinh/ Lặng nghe da diết bao tình Trường Sa/ Từ nay nhận đảo là nhà/ Bồ đề vắng, lấy phong ba mát chùa…".

Lê Xuân Sơn là một cây bút đa năng, vừa thành công trong báo chí, vừa để lại dấu ấn trong thơ ca. Nhiều bài thơ của anh tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật trữ tình tự sự giàu bản sắc, thể hiện rõ những nét đặc trưng của thi ca. Lê Xuân Sơn không dùng thơ để "thơ mộng hóa" hiện thực, mà để chưng cất cảm xúc đời thường thành chất thơ tinh khiết với ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu chất dân gian và đời sống.

Nguyễn Việt Chiến

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文