Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ - những "thương lượng" giữa ký ức và hiện tại

15:15 20/01/2026

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê Quỳnh Côi, Thái Bình. Ông đã in 10 tập truyện ngắn và tiểu thuyết, được trao các giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022.

Nguyễn Văn Thọ với gương mặt văn xuôi khá dữ dội, đã có nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết đầy ám ảnh, thấm đẫm trải nghiệm nhân sinh về số phận con người, góp một tiếng nói độc đáo trong dòng chảy văn chương đương đại.

Trong các truyện ngắn của ông, ta thấy sự trải nghiệm trực tiếp chiến trường đã trao cho Nguyễn Văn Thọ một "điểm nhìn cựu binh" vừa thấm thía vừa tiết chế. Ông không “huy hoàng” hóa chiến tranh, cũng không bi lụy hóa nỗi đau, thay vào đó, ông bền bỉ đưa trọng tâm về phận người với những vết thương âm ỉ, những thương lượng giữa ký ức và hiện tại để sống tiếp.

"Mùi thuốc súng" - Ký ức chiến tranh rỉ máu

Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ, chiến tranh không chỉ là bối cảnh lịch sử mà là một chất thể thấm vào cơ thịt, một "mùi vị" cụ thể đột khởi của ký ức. Truyện ngắn "Mùi thuốc súng" vì thế không đơn thuần là nhan đề, nó là chìa khóa mở cảm giác, là cơ chế kích hoạt dòng hồi ức đứt nối, đẩy nhân vật vào những vòng tái hiện vừa mê sảng vừa tỉnh táo.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ.

Người lính đặc công "đốt" chút thuốc nổ TNT như một nghi thức hóa giải lo âu khi mùi khét, ngai ngái của chất nổ lẫn với "mùi máu" của kẻ thù lẫn đồng đội đã "ngấm vào từng tế bào" qua "mười một năm, biết bao trận đánh" và cứ thế trở thành thứ ký ức của thân thể, một thứ "mùi bi hùng của đời lính" bám riết các trang văn của ông.

Từ "mùi vị" ấy, truyện mở ra đời sống hậu chiến với những mất mát khốc liệt khi hôn nhân rạn vỡ, gia đình đứt gãy, lòng người chênh vênh trước một trật tự đạo đức mới. Thi pháp Nguyễn Văn Thọ vì vậy nằm ở tổ chức điểm nhìn và nhịp kể xoay quanh ký ức và hiện tại với giấc mơ trên tàu, một động tác đốt thuốc nổ, một vệt khói hay một mùi hương… tất cả cùng kéo nhân vật và người đọc qua những lát cắt thời gian, nơi chiến tranh vẫn tiếp tục "ở lại" trong hòa bình.

Trong truyện "Mùi thuốc súng", thỏi TNT "hình bánh khảo, màu vàng" được nhân vật nâng niu như kỷ vật. Mỗi lần cạo vài hạt thuốc nổ và châm lửa Zippo, "một mùi thơm bay ra… đánh thức tất cả thần kinh" là một dấu hiệu cắt cảnh, chuyển pha từ hiện tại bức bối sang miền hồi ức lồ lộ. Ở cấp độ thi pháp, đây là "điểm nhấn cảm giác" tổ chức trục thời gian, cho phép mạch kể lật qua lại nhịp nhàng giữa ký ức trận mạc và hiện cảnh hậu chiến.

Mạch truyện ấy bao giờ cũng đi kèm ánh sáng chớp nhoáng "ánh sáng trắng trong đêm chói lòa" và sức ép khủng khiếp khi chất nổ bùng lên. Tổ hợp "mùi-lửa-khói-ánh chớp" khiến ký ức không chỉ được kể lại bằng lời mà bằng cảm giác, ký ức "đánh vào thần kinh" hơn là diễn giải bằng lý trí, và vì thế độ ám ảnh của chiến tranh trong văn Nguyễn Văn Thọ đạt một cường độ rất thể xác.

Đáng chú ý, mùi thuốc súng vừa là "mê lực" gây nghiện như một thứ an thần nghịch lý, vừa là mùi gây chấn thương cho người khác. Khoảnh khắc người phụ nữ thảng thốt nhận ra "cái thứ giết người" từng thiêu chồng bà, người lính buộc phải ném kỷ vật xuống biển. Từ đây, mùi ký ức riêng tư trở thành chứng tích tội ác trong ký ức cộng đồng, hành vi "liệng thật xa" là một nghi thức giải độc ký ức, đặt cái tôi cá nhân vào đạo lý chung của những người đã mất.

Nhân vật trung tâm của "Mùi thuốc súng" trở về sau mười hai năm, mang theo giấc mộng hòa thuận "thầy, u, vợ và đứa con gái chưa biết mặt". Nhưng hòa bình trong đời sống riêng không diễn ra khi người vợ đã đổi thay, một cảnh "chém hai buồng chuối" là một hình ảnh táo bạo, biểu tượng hóa sự tàn phá của bạo lực âm ỉ trong gia đình, từ đó đẩy nhân vật vào chỗ "không thể chịu được nữa", viết đơn ly dị và lặng lẽ bơi qua sông cùng con gái trong đêm. Ở đây, chiến tranh không bùng nổ bằng bom đạn mà "rỉ máu" qua những "kẽ nứt" của đời sống, khiến tha thứ trở thành một cuộc chiến mới, khốc liệt hơn vì nó không có ranh giới thiện, ác rạch ròi.

Điểm sáng nhân văn của truyện nằm ở mệnh lệnh "Phải sống!" được lặp lại như một điệp khúc và nâng tầm thành tuyên ngôn đạo đức hậu chiến. "Phải sống" cho mẹ già, cho đứa con và cả "đứa kia là em ruột của anh", một trớ trêu ngặt nghèo nhưng cũng là một điểm tựa để vượt qua hận thù. Nhịp điệp từ dồn dập đánh dấu bước chuyển từ trầm uất sang hành động, từ đắm đuối cái tôi sang trách nhiệm với người khác.

Bìa các tác phẩm đã in của nhà văn Nguyễn Văn Thọ.

Sau những năm chênh vênh, nhân vật chọn quay lại vùng chiến trường cũ, nhận lấy một công việc ở tờ báo thành phố, dựng lại đời sống tối giản bên sông Hàn. Đoạn văn về tượng đài Bà mẹ Âu Cơ được đặt đúng thời điểm "thành phố khánh thành", như để nối ký ức cá nhân với ký ức Tổ quốc - biển lớn của cộng đồng có thể là nơi tẩy rửa một phần vết độc mùi thuốc súng trong mỗi người.

"Nhà ba hộ" - lát cắt sắc lạnh của đời sống hậu chiến

 Rời vùng bom đạn, Nguyễn Văn Thọ có những truyện ngắn đặt trong không gian thị dân chật chội, nghèo khó thời bao cấp. Thi pháp ở đây là thi pháp của "tiểu tiết sinh hoạt", lấy cái vụn vặt để soi phần bất an hiện đại với mỹ học đời thường giàu sắc quan và những chi tiết ấy làm ký ức chiến tranh và hậu chiến có trọng lượng, như "dính" vào da thịt người đọc. Ở nghĩa ấy, "mùi thuốc súng" không chỉ là mùi đạn bom quá khứ mà còn là mùi ám của ký ức bám theo đời sống hôm nay.

Trong số những truyện ngắn viết về đời sống sau chiến tranh, "Nhà ba hộ" của Nguyễn Văn Thọ luôn được nhắc đến như một "góc máy đặc tả" mạnh bạo và không hề nhân nhượng. Tác phẩm không minh họa hiện thực, mà phơi bày nó trong trạng thái gần như nguyên bản: trần trụi, bức bối và đầy mùi vị của đời sống thật. Với không gian chật hẹp như phóng chiếu một xã hội đang loay hoay tái thiết. Ba gia đình chen chúc trong một căn nhà "ba hộ" không chỉ là một lựa chọn không gian, mà là cách tác giả nén cả xã hội hậu chiến vào một khung hình.

Một Hà Nội thời bao cấp hiện lên với những mảng tường ẩm mốc, những tiếng động lọt qua vách, những va đập vô tình giữa người với người. Không gian ấy khiến các nhân vật như bị tước mất riêng tư, và cùng lúc phơi bày trọn vẹn những bí mật đời sống mà họ vốn muốn che giấu. Nhưng điều đáng nói hơn là, khi vật chất bị thu hẹp, tâm lý con người phình nở thành những bi kịch khó gọi tên với bi kịch sau chiến tranh không nổ súng nhưng vẫn đau âm ỉ.

Nhân vật "tôi", một người lính trở về, chứng kiến cuộc sống gia đình mình rạn nứt từng ngày vì nghèo đói, bệnh tật và sự bất lực trước đời thường. Chiến tranh đã qua, nhưng hòa bình không trả lại cho họ bình yên. Ở một tầng nghĩa khác, "Nhà ba hộ" là bản ghi chép chân thực về một thế hệ "không kịp lớn" cho đời sống mới, khi những giá trị truyền thống bị lung lay trong cơn xoay vần của cơm áo.

Cũng trong không gian ấy, ba gia đình mang một nỗi niềm riêng với ba thân phận, ba cách sống, nhưng cùng chung một điểm, họ đều là những người yếu thế trước đời sống đô thị nghèo nàn. Nguyễn Văn Thọ có biệt tài với ngôn ngữ kể chuyện sắc lạnh, chi tiết giàu sức khơi gợi cảm giác. Những mùi tỏi, mùi lòng lợn, tiếng cãi vã xuyên vách… không chỉ gợi tả bối cảnh, mà trở thành ngôn ngữ biểu tượng. Chính các chi tiết này tạo ra sức nặng hiện thực mà không cần những phát biểu lên gân.

Giọng kể ngôi thứ nhất của "tôi" vừa tỉnh táo vừa xót xa, đôi khi như một phóng viên ghi chép hiện trường, đôi khi lại trượt sâu vào miền ký ức. Cách kể không tuyến tính giúp truyện mang dáng dấp một phóng sự ký ức, nơi hiện thực và hồi niệm giao thoa liên tục. Điều thú vị trong truyện không nằm ở sự cãi vã hay va chạm, mà ở cách tác giả để các nhân vật tự "thở", tự bộc lộ bản chất mà không cần tô màu. "Nhà ba hộ" vì thế không chỉ là một câu chuyện đời tư, nó mở ra một câu chuyện xã hội khi mỗi cá nhân là một mảnh vụn của thời đại, và sự đổ nát không chỉ đến từ nghèo đói mà còn từ sự thiếu hụt khả năng hàn gắn.

Trong bối cảnh văn học viết về hậu chiến còn nhiều mỹ lệ hóa, "Nhà ba hộ" đem đến một cái nhìn thẳng thắn, đôi khi tàn nhẫn nhưng luôn nhân văn. Nguyễn Văn Thọ không "tô đậm nghèo khổ" để gây thương cảm, ông chỉ đặt các nhân vật vào đúng hoàn cảnh của họ và để đời sống tự cất tiếng nói. Điều đó cho thấy hiện thực như nó vốn là, và nhắc người đọc về những năm tháng một thế hệ đã phải vật lộn để học cách sống giữa miền đời bình thường.

Nguyễn Việt Chiến

Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư bám sát định hướng, chủ trương phát triển đất nước trong giai đoạn tới; kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh.

Gần 560 thư, điện mừng gửi tới Đại hội XIV của Đảng là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cũng là biểu hiện sinh động của quan hệ hợp tác, hữu nghị ngày càng sâu sắc giữa Đảng ta với các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và kiều bào ở nước ngoài.

Ngày 20/1, Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng cho biết, đơn vị vừa nhận được thư điện tử cảm ơn của bà T.H.Đ.L., hành khách trên chuyến bay VN133 từ Đà Nẵng đi TP Hồ Chí Minh, bày tỏ sự xúc động và lòng biết ơn sâu sắc đối với lực lượng Kiểm soát an ninh sân bay vì đã tận tâm hỗ trợ tìm lại tài sản có giá trị bị thất lạc.

Trong chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội XIV của Đảng dự kiến diễn ra vào tối 23/1 tại Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình sẽ có 250 cán bộ, chiến sĩ, nghệ sĩ của Đoàn Nghi lễ CAND, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động biểu diễn. Đây là lần đầu tiên trong một chương trình nghệ thuật có sự huy động đông đảo nhạc công nhất của Đoàn (200 nhạc công).

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump gia tăng sức ép nhằm giành quyền kiểm soát Greenland từ Đan Mạch – một đồng minh NATO – đang đẩy quan hệ Mỹ - châu Âu vào vòng xoáy căng thẳng mới, làm dấy lên nguy cơ tái bùng phát chiến tranh thương mại và gây xáo trộn trật tự an ninh xuyên Đại Tây Dương vốn đã chịu nhiều sức ép trong những năm gần đây.

Trước sức ép địa chính trị ngày càng lớn tại Bắc Cực, Đan Mạch cùng các đồng minh chủ chốt trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang thảo luận về việc thiết lập một phái bộ trinh sát và giám sát đa quốc gia tại Greenland. Động thái này được xem là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ chủ quyền của Copenhagen và củng cố hệ thống phòng thủ của liên minh trước những biến động mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong thời điểm bản lề, khi Việt Nam đồng thời đẩy nhanh cải cách trong nước và định vị vai trò của mình trong một thế giới đầy bất ổn. Từ góc nhìn của một đối tác chiến lược lâu dài, Đại sứ Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet đã điểm lại quỹ đạo phát triển của Việt Nam từ Đổi mới đến nay và chia sẻ những đánh giá về ý nghĩa của Đại hội, nhận định tương lai Việt Nam trong 5–10 năm cùng những lĩnh vực hợp tác trọng tâm giữa Pháp, Việt Nam và Liên minh châu Âu trong thời gian tới.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文