Từ Nguyên Tĩnh, ký ức ám ảnh trang viết
Đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh là màu sắc tự thuật, trong thơ là thi pháp tự sự. Hay nói cho đúng hơn, tác giả tự đặt mình ở ngôi thứ nhất - người kể chuyện. Nhân vật "tôi" thường giữ vai trò trung tâm, vừa kể về mình vừa là nhân vật quan sát, liên kết các sự kiện, con người trong một bối cảnh và cốt truyện cụ thể.
1. Từ Nguyên Tĩnh sinh năm Đinh Hợi, 1947. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1994, thuở tôi chưa nghĩ gì đến “chữ nghĩa”. Dần dần tôi nhận ra, ông là văn nhân “lực lưỡng” trên văn đàn, thành danh và nổi danh.
Nói đến Từ Nguyên Tĩnh, trước hết nói đến ông với tư cách nhà văn. Khởi đầu từ tập ký sự "Hàm Rồng ngày ấy" viết chung với Lê Xuân Giang (hai tập, 1984 - 1987), nhà văn Từ Nguyên Tĩnh liên tục cho ra đời các tập truyện ngắn: "Mối tình chàng Lung Mù" (1992), "Gã nhà quê" (1993), "Mùa yêu đương" (1997), "Kiếp cầm ca" (2002), "Chuyện lạ trên núi mắt rồng" (2005), "Người tình của cha" (2006), Truyện ngắn "Từ Nguyên Tĩnh I" (2006), Truyện ngắn "Từ Nguyên Tĩnh II" (2011), "Ngày bình thường của chiến tranh" (2017)...
“Gia tài” văn xuôi ngoài “kho” truyện ngắn, phải kể đến 6 tiểu thuyết: "Mảnh vụn chiến tranh" (1994), "Không thành người lớn" (1995), "Cõi người" (2004), "Đời côi cút" (2016), "Truyền thuyết sông Thu Bồn" (2008), "Sống được là may" (2014).
Văn xuôi Từ Nguyên Tĩnh là văn xuôi của thân phận, vì thế có sức sống. Truyện ngắn "Người tình của cha" (năm 1991) của ông được chuyển thể thành phim và phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam năm 1994. Truyện ngắn này cũng đã được tuyển chọn vào chương trình tham khảo lớp 9, bộ môn văn học địa phương tỉnh Thanh Hóa từ năm học 2007-2008.
Truyện ngắn "Hạnh phúc trần gian" cũng được chuyển thể phim và được đài Truyền hình Đà Nẵng công chiếu năm 1995. Trong một lần gặp nhau tại "Ký ức Nhiếp ảnh" của nhà văn, NSNA Phạm Công Thắng, ông tặng tôi "Chuyện tình bỏ quên" (tập truyện ngắn) và "Bản thảo 3" (thuộc seri mang tên "Bản thảo", khởi in từ năm 2007, "Bản thảo II" năm 2009).
Về thơ, ông còn có "Trường ca Hàm Rồng" (2000), "Thơ Từ Nguyên Tĩnh" (2014). Gần đây, ông gửi ra "Từ Nguyên Tĩnh - Trường ca" (quý 3/2025). Giật mình vì ông dù cao niên vẫn miệt mài sáng tạo văn chương. Hỏi thì ông cười: “Nợ cuộc đời, nợ nhân thế chưa trả hết thì viết”.
So với văn nhân cùng thế hệ, Từ Nguyên Tĩnh cầm bút khá muộn. Tuy nhiên, tính đến nay, ông đã có 27 tác phẩm, đủ thể loại. Đó là một “gia tài” đáng nể sau 40 năm cầm bút. Quả thật, sức vóc lao động nghệ thuật như thế phải nói là bền bỉ, cần mẫn, đam mê, nghiêm túc, đạt hiệu suất cao. Mượn chữ của nhà văn Nguyễn Hoài Nam mà nói thì đúng là Từ Nguyên Tĩnh thuộc lớp nhà văn “cường chữ”. Ông đúng là con “trâu mộng” trên cánh đồng Thạch Bàn bước vào “cánh đồng” chữ.
Đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh là màu sắc tự thuật, trong thơ là thi pháp tự sự. Hay nói cho đúng hơn, tác giả tự đặt mình ở ngôi thứ nhất - người kể chuyện. Nhân vật "tôi" thường giữ vai trò trung tâm, vừa kể về mình vừa là nhân vật quan sát, liên kết các sự kiện, con người trong một bối cảnh và cốt truyện cụ thể. Điều này tạo nên mối liên hệ, đồng cảm với độc giả và gia tăng tính chân thực, thuyết phục của tiếng nói "người trong cuộc".
Từ “chứng nhân” của lịch sử bước vào văn bản trở thành “nhân vật” tự thuật, tự sự. Sự kiện, cảm xúc của ông trong tác phẩm không vay mượn.
2. Năm 1965, khi đủ 18 tuổi, Từ Nguyên Tĩnh nhập ngũ và có 10 năm trong quân ngũ. Ông là người lính, tham gia chiến đấu bảo vệ “huyết mạch” giao thông vận tải ở Hàm Rồng. Ông “chung thủy” với trận địa Hàm Rồng.
Nói về Nam Ngạn - Hàm Rồng, thế hệ “lớn lên” nhờ trang sách, hẳn không ai lạ với tên tuổi nữ Anh hùng Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, liệt sĩ Đỗ Hữu Toại. Từng tấc đất ở đây thấm máu quân và dân Thanh Hóa. Đây cũng là câu trả lời thắc mắc ban đầu của tôi, khi thấy ông viết mãi về Hàm Rồng, về Nam Ngạn, về bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến - những lực lượng nòng cốt trên trận địa năm xưa, cho tới tận hôm nay.
Đất nước thống nhất đã 50 năm. Chiến thắng Hàm Rồng cũng qua 60 năm (4/4/1965 - 4/4/2025), nhưng đó là bản hùng ca vang mãi. “Những ai qua đây/ Để về chiến trường xa/ Những đoàn quân theo bàn tay của Bác/ Thấy tượng cũng theo mình ra đi/ Chỉ phương trời có giặc”, (Tượng Nam Ngạn - Hàm Rồng).
Từng có nhiều tác phẩm văn xuôi, trường ca về Hàm Rồng, nhưng Từ Nguyên Tĩnh chia sẻ còn viết mãi về “địa chỉ đỏ” này. Đọc tác phẩm của ông, hiện diện lên tất cả bi hùng của dòng sông Mã và Hàm Rồng lịch sử, và cả day dứt khôn nguôi của “người trong cuộc”.
“Nếu tôi ngồi xuống lúc này/ Trên trận địa Hàm Rồng/ Tôi không thể đứng lên được nữa/ Đồng đội ôm lấy tôi/ Tôi và đồng đội.../ Thành những linh hồn” (Nếu tôi ngồi xuống). Rất nhiều đồng đội, đồng chí của Từ Nguyên Tĩnh đã nằm lại, linh hồn hóa thân thành sông núi, không riêng một pháo thủ làm thơ, bên chiến hào.
Tác phẩm mới nhất của ông là "Từ Nguyên Tĩnh – Trường ca" gồm 3 trường ca: "Tượng đài dân công", "Cái chết của sư cụ chùa Tịnh Thiên", "Chuyện tình trong hang đá" - có chung đề tài hậu chiến. Cả 3 trường ca này đều viết về cùng “đội quân” nhân dân là dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong. Từ Nguyên Tĩnh là nhà văn đầu tiên viết về đề tài dân công, lực lượng quần chúng tham gia cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mỹ
Văn giới “kính nể” Từ Nguyên Tĩnh không chỉ ở chỗ ông viết nhiều, viết khỏe mà còn là cây bút linh hoạt, đa năng, đa diện, đa phong cách, đa giọng điệu. Sáng tác của ông đủ các thể loại, từ tự sự đến trữ tình, từ ký sự, truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ thơ đoản thiên đến trường ca... Hay nói cách khác, “văn bản” của ông đa thanh, đa giọng điệu. Điều này thực sự là không dễ.
Từ Nguyên Tĩnh đã “trình diễn” hệ thống chủ đề thật sự đa dạng, theo sát tiểu sử, hành trạng và kinh nghiệm cuộc đời ông. Trong tác phẩm của ông có đầy đủ chiến tranh và hậu chiến; truyền thống và hiện đại; miền núi, đồng bằng và biển đảo; số phận dân tộc và bi kịch cá nhân; có tiếp nhận, phát triển; có tình yêu, hôn nhân và gia đình...
Tác phẩm của ông vừa suy tư, chiêm nghiệm, vừa lãng mạn. Thật khó lý giải, ở tuổi ngót nghét bát thập, bên cạnh văn xuôi đầy thân phận, va đập, Từ Nguyên Tĩnh còn viết thơ tình, không kém ngọt ngào.
3. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh (tên thật là Lê Văn Tinh) sinh tại làng Bàn Thạch, xã Xuân Sinh, huyện Thọ Xuân (cũ), nay là xã Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa. Ông vẫn luôn tếu táo, tự trào mình là anh nhà quê: “Tớ dân quê”.
Bàn Thạch quê hương ông là vùng đất thiêng, “địa linh nhân kiệt”. Theo truyền khẩu, ở làng cổ Bàn Thạch có đến 21 thế đất hình con dơi. Con dơi khi thêm vào bộ tứ linh “long, ly, quy, phượng” thành ngũ phúc. Vì vậy, đất này được lựa chọn làm nơi an táng 3 vị vua thời Lê Trung Hưng là Lê Dụ Tông, Lê Hiển Tông, Lê Mẫn Đế.
Học xong Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1978-1982), ông về quê công tác, chẳng mê phố thị. Khật khừ vậy nhưng rồi cũng “đưa đẩy” ông đảm nhiệm các phận sự như Phó chủ tịch Hội Văn nghệ, Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh và trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mãi tới năm Bính Thân (2016), lão “Le Nha Que” - Từ Nguyên Tĩnh lại “ngược” ra Thủ đô, lặng lẽ sống trong căn nhà nhỏ bên hồ Đầm Trấu... Nay thì ông “chán” hẳn phố xá, lại trở về “nhà quê”, sống và viết ở Thanh Hóa.
Từ Nguyên Tĩnh đã đoạt được nhiều giải thưởng văn học danh giá, từ giải thưởng hàng năm, 5 năm trao 1 lần (Giải thưởng mang tên Lê Thánh Tông) của tỉnh Thanh Hóa cho đến giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Tiểu thuyết "Cõi người" của ông, từng nhận được Tặng thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (2004 - 2006); "Mối tình chàng Lung Mù", được tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT (năm 2022).
Người lớn tuổi thường nhớ về ký ức, hoài niệm. Từ Nguyên Tĩnh không cá biệt. Cho đến bây giờ ông vẫn nhớ chiếc nồi đất mẹ mua kho cà. “Tôi đi chiến trường xa về không gặp mẹ/ Hết chiến tranh về mẹ chẳng còn/ Chiếc nồi đất vỡ treo trên cọc rào như chiếc mũ/ Đội nắng mưa suốt cả thời gian” (Chiếc nồi đất của mẹ).
“Nếu bạn đến Hàm Rồng/ Bạn hãy lên đồi “Xê Bốn”/ Bạn sẽ thấy tấm bia bên tay phải/ Ghi tên những người đã hy sinh”; “Tôi có lỗi/ Vì chưa kể cho ai biết bạn mình/ Cuộc đời họ lành như đất/ Mỗi lần định cầm bút/ Tôi không biết viết được điều gì” (Bạn đến Hàm Rồng).
Ký ức không phải những gì đã qua, mà luôn thức cùng hiện tại. Tuổi thơ với làng quê, phụ thân, bạn học và thầy cô, đồng đội những năm tháng chiến tranh... tiếp tục là nguồn cảm hứng trong thơ, văn Từ Nguyên Tĩnh.
Ngồi ngắm nhìn vách thời gian trên khuôn mặt ông, đọc văn, thơ ông, tôi hiểu thông điệp Từ Nguyên Tĩnh, nâng niu hôm qua mới thêm động lực và sức mạnh để mỗi người sống tốt hơn, ít nhất ở hiện tại.