Từ những ngả nào thơ đến

14:33 21/03/2024

Cách nay cũng lâu lâu, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng (sinh sống tại Canada) đã xuất bản một cuốn sách khá thú vị về thơ: "Thơ đến từ đâu". "Thơ đến từ đâu?", về bản chất, là một câu hỏi truy nguyên, và nó khiến tôi, trên cùng một ý hướng, phải hỏi cách khác đi: "Từ những ngả nào, thơ đến?".

Đây là câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình như một nghi án cần hóa giải, nếu phải chi tiết hơn nữa, sẽ là: "Tại sao nhiều người, rất nhiều người, lại chọn thơ, chứ không phải một thể loại nào khác, cho sự thực hành viết/ sáng tác văn chương của mình?". Cũng cần nói ngay, câu hỏi "Từ những ngả nào, thơ đến?" ấy là sự thắc mắc trên nền cảnh Việt Nam, một nước vốn nức tiếng là "thi quốc", nơi thơ có truyền thống cực kỳ sâu gốc bền rễ, nơi mà ta thật không khó để thấy ngay cái hiện tượng này: nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, các thi tập in ra không đếm xuể, câu lạc bộ thơ các cấp, các dạng mọc lên bạt ngàn tươi tốt và hội viên thơ của Hội Nhà văn Việt Nam thì luôn đông đến mức áp đảo tuyệt đối hội viên thuộc các chuyên ngành khác, nếu xét về số lượng.

“Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

Có thể là vì tâm hồn người Việt Nam chúng ta thiên về lãng mạn trữ tình, rất hợp với thơ (nên mới có sự kiện là số lượng người làm thơ luôn cao vọt chăng?). Điều này thì ông chủ bút "Nam Phong tạp chí" đã từng quả quyết trong bài diễn thuyết giữa thủ đô Paris hoa lệ của Pháp năm 1922: "Nếu như thi ca, phân tích cuối cùng là ở chỗ nó là một khả năng nào đó để xúc động trước những cảnh đời và cảnh thiên nhiên, để biến sự xúc động êm dịu và nhất thời này thành những câu chữ hài hòa và có nhịp điệu, thì dân tộc chúng ta đã luôn sở hữu cái bản năng thi ca này có thể gọi là ở trạng thái thuần khiết... Tiếng nói của chúng ta như hát với một gam những thanh điệu làm cho những người ngoại quốc muốn hóa thành người Nam đành phải thất vọng. Chính vì vậy nên qua nhiều thế kỷ, bản năng thi ca và thứ ngôn ngữ đầy tính nhạc ấy đã hình thành một nền văn chương bình dân của nước Nam phong phú, bao gồm những bài hát, những bài thơ hai câu, những ngạn ngữ và tục ngữ, những câu nói ít hay nhiều có vần, có ẩn dụ, hình ảnh, có sự so sánh nhiều chất thơ..." (Phạm Quỳnh, bài "Thơ nước Nam", in trong "Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp năm 1922 - 1932", Nguyễn Xuân Khánh dịch).

Đoạn văn dài, nhưng ta chỉ cần chú ý đến những từ "xúc động" và "nhất thời" mà học giả Phạm Quỳnh đã nói. Đó chính là những từ khóa quan trọng có thể cho ta thấy phần nào cái bí mật của việc rất, rất nhiều người Việt Nam chọn thơ cho sự "thực hành viết" của mình. Tôi muốn diễn đạt theo cách khác: thơ, hơn bất cứ một thể loại nào, là sự hồi đáp tức thì của cảm xúc con người trước những va đập, những tác động của ngoại giới. Tâm hồn người Việt Nam, như giả định, rất nhạy cảm, nên cũng rất dễ rung động trước các hình sắc, mùi vị, âm thanh và những chuyển biến của thế giới, và vì thế dễ có sự tuôn trào của thơ. Có lẽ không ai phát biểu cái ý này về thơ, và phát biểu bằng thơ, hay như "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu, trong "Lời thơ vào tập Gửi hương":

Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hát chơi
Khi gió sớm vào reo um khóm lá
Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời

Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
Kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa  

Hát vô ích, thế mà chim vỡ cổ
Héo tim xanh cho quá độ tài tình
Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ
Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh

Tôi réo rắt, chẳng qua trời bắt vậy
Chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo
Gió đã thổi cho nên buồn phải dậy
Hồn vu vơ, tội ấy ở mây đèo...

Cũng chính từ quan điểm này mà ta có thể lý giải được tại sao, chiếm một tỉ lệ cực cao, là những người sáng tác văn chương bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình bằng thơ. Tất nhiên trong số đó có nhiều người chung thủy suốt đời với thơ, và đạt được những thành tựu đáng kể. Nhưng cũng không ít người chỉ dan díu lúc đầu rồi nhanh chóng bỏ thơ để tìm đến và đi theo những nẻo đường văn chương khác.

Ví như, trước năm 1945, nhiều nhà văn hiện thực chủ nghĩa vào loại "nồng danh khét tiếng" như Nam Cao, Tô Hoài đều khởi sự bằng thơ, những bài thơ lãng mạn trữ tình rập khuôn Thơ Mới chẳng mấy ai đọc, và đương nhiên các ông cũng chẳng muốn nhớ làm gì. Mới đây nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân còn cho tôi biết một chi tiết khá thú vị về Vũ Trọng Phụng: bài đăng báo đầu tiên của nhà văn này hóa ra là... lời hai bài hát kiểu vọng cổ Nam Kỳ (nghĩa là cũng vần cũng nhịp từa tựa như thơ mà phần đông vẫn quan niệm).

Tập tiểu luận của tác giả Nguyễn Đức Tùng.

Sau này, ở "nhà số 4", tức Tạp chí Văn nghệ quân đội, lại có nhiều nhà văn được đông đảo độc giả biết đến qua những tác phẩm tiểu thuyết chiến tranh rất dày, rất dài, hiện thực khốc liệt chồng chéo, như Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Khuất Quang Thụy..., thì khi lật giở chồng tạp chí cũ, tôi mới "ngã ngửa người ra" là các ông cũng từng làm thơ, in thơ khi còn trẻ, những bài thơ tất nhiên là vô cùng dạt dào cảm xúc. Hình như, càng ở tuổi hoa niên bồng bột phấn khích thì người sáng tác văn chương càng nhạy cảm, dễ rung động, dễ nhập hồn vào thơ để bộc phát thế giới tinh thần, cái "cây đàn muôn điệu" của mình thì phải?

Nói một cách khác, đó chính là "cái Tình", một nguồn quan trọng của thơ. Nhưng trong lý luận của văn chương cổ trung đại Việt Nam, nhiều người lại nhấn mạnh hơn đến nguồn khác: "cái Ý". Ví như Lê Hữu Trác: "Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay". Tuy nhiên bản thân "cái Ý" này của thơ cũng khó mà tách khỏi "cái Tình", nếu muốn thơ thực sự là thơ chứ không phải một cái gì khác. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc từng phân tích rất kỹ: "Trong thơ, ý không thể là trần trụi, là nguyên chất ý. Ý phải nhập thân vào cảm xúc. Nhà thơ có một ý tưởng. Chưa đủ. Hắn phải đợi ý tưởng ấy làm bồng lên trong lòng những luồng sóng vỗ. Cái nếp nhăn trên trán phải biến thành nếp nhăn trong tâm hồn. Cảm xúc phải dào lên song song với ý. Ý và cảm xúc" (Bài "Kinh nghiệm sáng tác", in trong sách "Sống với chữ", Lotus Media, 2021).

Như vậy, cái "gen" cảm xúc của dân tộc được di truyền hay cái "căn tạng" sáng tác của các cá nhân, kết hợp với "cái Ý" nữa, có thể là những nguồn, những lời giải tương đối cho câu hỏi "Từ những ngả nào, thơ đến?". Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Trong công trình có tên "Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do", xuất bản năm 2023 - đoạt giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm - hai nhà nghiên cứu Phùng Ngọc Kiên và Đoàn Ánh Dương đã dựa trên lý thuyết trường văn học của nhà xã hội học văn học người Pháp Pierre Bourdieu để tìm hiểu sự hình thành trường văn học thuộc địa ở Việt Nam trước năm 1945.

Họ đã thống kê, phân tích, so sánh khá nhiều trường hợp các tác giả văn xuôi và các tác giả thơ thời kỳ ấy, để khẳng định rằng: dẫu có mang tinh thần "vô vị lợi" đến đâu thì việc lựa chọn thơ để có một chỗ đứng nhất định trong đời sống văn chương cũng vẫn là một lựa chọn, một lựa chọn "gắn với những cấu trúc xã hội bề sâu, dựa trên những số vốn, số tư bản xã hội và văn chương mà mỗi cá nhân hay cộng đồng thừa kế và đầu tư vào một không gian và vị thế tiềm năng".

Trình bày cụ thể vấn đề này khá tốn thời gian, nên tôi sẽ nói ngay về một kết luận... giật mình, nhưng cũng rất thú vị: "Khoảng thời gian cần thiết để những tay mơ chính thức bước vào trường văn học như một nhà thơ ngắn hơn rất nhiều so với một nhà văn. Như vậy, để bước vào trường văn học đang thành hình đầu thế kỷ, những tác giả ở tỉnh lẻ càng xa so với trung tâm là những đô thị như Hà Nội thì càng cần lựa chọn tấm vé có giá trị nhỏ nhất, nghĩa là vừa với "túi tiền" của họ, vừa với khả năng đầu tư về mặt giá trị tài chính nhưng nhanh chóng thu lại được giá trị tượng trưng. Thi ca là một trong những loại hình cho phép lựa chọn hành động đạt đến hiệu quả cao nhất, vượt qua được khoảng cách không gian địa lý, và rút ngắn thời gian chờ đợi để được tham dự". 

Một thế kỷ đã đi qua, bao nhiêu thăng trầm dâu bể, bao nhiêu nước đã chảy dưới chân cầu, đời sống văn chương Việt Nam đương đại cũng chịu nhiều tác động khác với quãng thời gian cách nay một thế kỷ. Nhưng những gì mà hai tác giả cuốn "Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do" nói về việc lựa chọn thơ của "các cụ" thời văn chương thuộc địa xem ra vẫn có thể giúp ta, phần nào đó, trả lời câu hỏi "Từ những ngả nào, thơ đến?" thời bây giờ. Tôi chỉ xin lưu ý một điểm: bàn về những ngả những nguồn đến của thơ, chúng ta đang bàn trên những trường hợp thành công. Nhưng hỡi ôi, đấy chỉ là một thiểu số trong một đa số mênh mông. Thi ca tưởng dễ dàng mà vô cùng khắc nghiệt. Người làm thơ thì nhiều, nhưng thi sĩ đích thực thì luôn ít.

Hoài Nam

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文