Chiều trên Sa Mach
Trong những chuyến đi vào buôn làng của bà con gốc Tây Nguyên. Được tận mắt nhìn đàn heo rẫy, vẫy đuôi ung dung dưới sàn nhà hay sòng sọc chạy theo mẹ, có dịp đứng ngắm ngôi nhà sàn ong ong mùi khói và được nghe tiếng hát ru ngọt ngào, kẽo kẹt võng đưa là hạnh phúc đối với người cầm viết. Nơi ấy tiếng người mẹ vọng lên, có lúc chựng lại vỗ về như than thân trách phận. Khách lữ hành đôi khi phải dừng lại nín thở lắng nghe rồi cảm thấy lòng se lại, cả một thời ấu thơ cứ rấm rứt tìm về. Mới đây tôi trở lại Sa Mach ở chiến khu Đ, tần ngần nghe tiếng ru con của người mẹ trẻ Chơ Ro, cảm thấy không gian của núi rừng như trầm lắng lại.
Trong đời, tôi có trên hai lần đến Lý Lịch, nơi một bộ tộc người Chơ Ro gồm có 152 hộ, 536 khẩu sinh sống từ bao đời nay ở phía bắc biển hồ Trị An. Bây giờ Lý Lịch đổi thành ấp, thuộc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Sa Mach là tên một dòng suối lớn phát nguyên từ rừng quốc gia Cát Tiên chảy về bao quanh Lý Lịch, trở thành bến nước trong xanh rì rầm giữa rừng núi đại ngàn. Lý Lịch khác với những buôn làng ở Tây Nguyên nơi tôi có dịp đi qua, vì toàn bộ bà con ở đây đều đổi thành họ Nguyễn, Huỳnh thay vì họ gốc là Hồng, Điểu, Thố… Tuy vẫn theo tín ngưỡng đa thần nhưng gần như trong từng ngôi nhà đều thờ ảnh Bác Hồ. Trong suốt chiều dài từ những năm chiến tranh gian khổ đến bây giờ, tâm thức của bà con vẫn còn giữ lòng tin vào con đường kháng chiến năm xưa.
Ký ức bên dòng Sa Mach
Tôi được đến sóc Lý Lịch đầu tiên khi tháp tùng với Tổng đội 9 Thanh niên xung phong vào xem khai thác trắng lòng hồ thủy điện Trị An vào năm 1987. Ngày ấy vào được buôn làng này phải theo con đường sỏi nhỏ từ Lâm trường Mã Đà đến Vĩnh An dài 30km. Đây là con đường độc đạo xuyên qua một phần chiến khu Đ mà báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực về cuộc kháng chiến anh dũng của hai thời kỳ. Anh Lê Minh, một thành viên lãnh đạo của Tổng đội 9, xuất thân từ sinh viên trường luật trước năm 1975 ở Sài Gòn đã thử tuổi xanh của mình bằng cách tham gia thanh niên xung phong để đến với rừng. Trên chiếc xe Honda 67 nhầu nhĩ lấm lem màu đất đỏ bazan, anh chở tôi đi gần hết vùng đất Lý Lịch, nơi mà anh cho rằng đây là núi rừng của thời chiến. Ngày ấy ra đường gặp một người lãnh đạo có học và kiến thức rộng như anh thật hạnh phúc. Lê Minh chuyên hút thuốc lá Hoa Mai, một loại thuốc lá đen không có đầu lọc khen khét như thuốc giồng ở bến sông Tân Định. Khi đến Mã Đà, hai anh em ghé vào một quán nước mía quay bằng tay, gọi hai ly giá 5 hào. Biết tôi là nhà văn từ Hội văn nghệ Đồng Nai về thăm lại chiến khu xưa, nên anh cau mày hỏi “Ông có biết bài thơ tính tiền nước mía là của ai không!?”. “Không biết”, tôi trả lời cộc lốc. “Của tôi đó”, “đọc nghe coi”. Ngày ấy, khi đã quen nhau, tuổi cùng trang lứa, chúng tôi thường đối thoại theo giọng điệu của rừng. Anh rít hơi thuốc lá đằng hắng giọng “Đáng lẽ tôi đã bạt tai em, để trả lời cái nhìn xấc xược / Khi tôi kêu tính tiền ly nước, đòi em phải thối lại 50 xu…”. Thơ gì mà đấm đá với phụ nữ nghe ghê vậy cha! Lê Minh không trả lời, anh cúi gằm xuống nền đất đầy bụi đường đỏ au rồi đưa mắt mơ hồ nhìn vào rừng thẫm nói với tôi như lên đồng “Nhìn rừng chiến khu Đ, tôi nhớ đến Trung tướng Nguyễn Bình, trước năm 1945 ông là Tư lệnh đệ tứ chiến khu ở miệt mỏ than Đông Triều, sau năm 1945 Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ là Tư lệnh Chiến khu Đ. Nguyễn Bình không chỉ là tướng lãnh cầm binh làm quân viễn chinh Pháp khiếp sợ về lối đánh xuất quỷ nhập thần mà còn tập hợp các anh hùng hảo hớn Nam Bộ tại chiến khu Đ. Một việc mà chỉ có dũng tướng mới làm được. Ông biết dân Nam Bộ có học thời ấy, gần như ai cũng thuộc lòng về Thủy Hử từ Võ Tòng đả hổ, đến đại đao của Lỗ Trí Thâm và tính nết của quân sư Ngô Dụng… việc một người Hải Phòng một mình một ngựa vào Nam tập hợp những hảo hán bên mình là một sự kiện có lẽ có một không hai trong cuộc chiến tranh chống xâm lược ở miền Nam thời bấy giờ”.
![]() |
| Nhà đài Lý Lịch. |
Ngày đi với Lê Minh, tôi biết thêm nhiều điều, tôi phục anh sát đất và tôn anh làm tư lệnh Nguyễn Bình trong việc chinh phục lực lượng thanh niên xung phong, những con người vừa dũng cảm lại lắm ngang tàng. Năm 1987, trước khi đóng đập thủy điện Trị An vài ngày, chúng tôi đã có mặt tại lòng hồ. Lúc ấy nguyên cả vùng trũng xã Phú Lý còn rất nhiều lò than nhỏ, gọi là lò cơm, vì đó là cơm áo của gia đình cao khoảng 1m, âm đất 1m và bán kính từ 1 đến 1m5. Hiện trường lúc đó, ngoài những lò cơm đang nhả khói trắng chập chờn, còn hàng trăm căn nhà lá tuềnh toàng được bao quanh bởi chuối và đu đủ. Đứng trên dốc Cây Cầy nhìn xuống, toàn vùng trũng Phú Lý dòng người xuôi ngược đăm chiêu như đang di tản chiến sự. Trước mặt chúng tôi, hàng trăm người khuân vác tài sản gia đình, heo gà chó mèo tháo chạy bằng xe bò, xe trâu và máy cày. Nhiều con gia súc lớn không muốn rời đi cứ chạy vòng vòng đã làm cho các cháu nhỏ đuổi theo mếu mó. Không ít người đứng khóc vì than đang còn khói đen chưa đến ngày ra lò. Chúng tôi cố bám theo dòng người nhưng không thấy tiếng cười. Những người đàn ông cố làm hết sức mình để dẫn vợ bế con và mang theo những gì có thể. Trong lúc ấy trên bầu trời máy bay quần thảo tầm thấp một ngày 2-3 lần, cùng với tiếng gầm thét của động cơ là tiếng loa phóng thanh vọng xuống vang cả đất trời: “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý! Còn mười hai tiếng đồng hồ nữa, Nhà máy Thủy điện Trị An sẽ đóng đập, mực nước sẽ dâng lên từ 20 đến 30m. Yêu cầu đồng bào phải rời khỏi khu vực lòng hồ ngay trong ngày hôm nay để bảo đảm tính mạng và tài sản của mình. Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm đối với người cố tình ở lại. Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý…”.
Tối hôm ấy, chúng tôi ngủ lại trên chòi của Hai Sự cao đến 3m, sau khi kết được hai bè chuối buộc vào chân cột. Vợ con anh đã di tản về Lý Lịch hôm qua. Việc anh cố tình ở lại mục đích chờ than nguội cho ra lò kiếm được đồng nào mừng đồng đó. Đêm ấy là đêm cuối cùng của người và đất. Hai Sự đãi chúng tôi món cháo gà, nốc rượu tì tì rồi bật dậy hát dân ca Chơ Ro gõ nhịp lên sàn cọc cạch. “Sao anh biết nhiều bài ca Chơ Ro thế!”, tôi hỏi. “Trời! vợ tôi dân Lý Lịch thứ thiệt mà! Tôi là dân Định Quán chuyên nghề đào vàng sa khoáng từ suối Nho, suối Cục, suối Sa Mach cũng kiếm được chút đỉnh nên về định cư ở đây làm nghề hầm than đổi đời. Nghề đào vàng, tui đếch thấy thằng nào giàu có, chỉ được sốt rét vàng mắt, đến khi rủng rỉnh được vài chỉ, đêm về đem nướng cho chim ăn”. “Ban đêm ở rừng, chim đâu mà ăn!”, tôi hỏi. “Ông là nhà văn mà ngu bỏ mẹ”, Hai Sự lầu bầu. “Chim là tiếng lóng để chỉ mấy đứa con gái làm nghề tư bản, tư là bốn, bản là làng. Ở đó, con gái làm nghề “bốn làng” bằng vàng ông ơi! Giá một cú phạt đền penalty từ một đến hai phân. Đợi khi vô bờ, tôi dẫn ông đến bãi vàng thử vận các em, mà nhìn bộ dạng ông đách có vàng, chúng nó sẽ xem ông như chó!”, Hai Sự ngửa mặt lên trời cười sằng sặc, tiếng cười hiền khô.
Cả đêm nằm chờ nước lớn, tôi miên man nghĩ đến một quần thể ô hợp với cuộc sống bầy đàn, mạnh được yếu thua. Ở các bãi đào vàng, người có nhiều chữ hay ít chữ đều như nhau, vì cơ bắp và tính gian hùng quyết định tất cả.
Năm giờ sáng, lúc chúng tôi thức dậy đã thấy mờ mờ nước dâng lên và chỉ trong một buổi sáng, lò than và vườn chuối của anh đã chìm trong biển nước. Biết không còn hy vọng gì về lò cơm của mình, Hai Sự bảo chúng tôi xuống bè chuối bơi về đất liền, ở đằng xa cũng có trên 50 chiếc bè khác đang cố vào bờ. Khi chúng tôi cập bến, ven bờ xăm xắp nước, hàng chục bà con Chơ Ro đứng nhìn mặt hồ mênh mông với gương mặt thất thần. Mặt nước bao la đã xóa đi ký ức, xóa đi những bến tắm ven bờ Sa Mach nơi đã tồn tại biết bao mùa bí nở. Đối với người dân tộc bản địa, bến tắm vừa là nơi trần tục vừa linh thiêng. Bến tắm là nơi tẩy rửa bụi trần, kể lể chuyện vui buồn và cũng là nơi đã không ít chàng trai cô gái nên vợ nên chồng từ những lời hò hẹn và kỳ cọ cho nhau.
Ông già Củ Chụp, một nhân chứng sống của đại ngàn
Ở làng Chơ Ro Lý Lịch, từ người dân thường đến một số cán bộ lãnh đạo từ tỉnh xuống huyện, ai cũng biết đến một ông già gắn liền với củ chụp. Tên ông già Củ Chụp là do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt cho ông, khi ông Sáu Dân về thăm đồng bào ở chiến khu Đ. Chuyện về ông già này có thể viết thành sách. Vì ở vùng này, ông và đất đã gắn bó với nhau trọn một cuộc đời.
Tôi đã đến nhà ông già Củ Chụp để ăn cơm và xin ngủ lại mấy ngày, rồi xin làm con nuôi của ông, khi đi theo nhóm đào vàng sa khoáng ở suối Sa Mach gần cạnh nhà ông. Những lần sau có dịp về Phú Ly,á tôi đều đến ở nhà ông, có lúc ở nhà Hai Sự, tôi thường đi theo Ba Tiến, Tư Bộ, Năm Đức và Tân, Lệ, Luông, Nương là những người con của ông ra rẫy hái rau rừng. Từ những cuộc gặp gỡ trò chuyện mang ân tình cha con, tôi mới phát hiện ông bố nuôi của mình là một cây Kờ Nia cổ thụ còn tồn tại ở núi rừng Nam Tây Nguyên này. Ngay căn nhà sàn của ông đã nói lên như một chiến binh dũng cảm của thời hái lượm. Người Chơ Ro có luật tục bất thành văn như thổ dân da đỏ ở hạ nguồn sông Amazon. Đó là việc con trai đã muốn chứng tỏ mình trưởng thành phải tự mình đi săn thú rừng, càng nhiều thú rừng càng chứng tỏ tài năng của người đàn ông. Chắc chắn một điều, người Chơ Ro ở Lý Lịch không có họ hàng gì với các thổ dân ở tận Nam Mỹ kia, nhưng việc thể hiện bản lĩnh nhằm mang lại áo cơm gia đình của đàn ông đều giống nhau. Ở sau vách và dưới đòn tay nhà của ông Năm có hàng trăm sọ động vật như khỉ, voọc, heo, mễn, bò, cá sấu… nằm sát nhau để chứng minh chiến tích của một đời người. Ông cho tôi xem cây ná có tuổi đời trên dưới 60 năm, có lần tôi đặt bệ ná vào bụng kéo thử nhưng không thể.
![]() |
| Già làng Năm Nỗi đang cúng thần lúa. |
Ông Năm Nỗi, tên thật là Nguyễn Văn Nỗi, tiếng Chơ Ro là Tơ Tơ. Ông sinh năm 1929 tại chiến khu Đ, cha ông là dân mộ cao su người Ninh Bình lấy vợ Chơ Ro, ông Năm lớn lên giữa rừng núi đại ngàn. Năm 1946, khi chiến khu Đ thành lập, là một thanh niên gan dạ băng rừng lội suối không sợ cọp cũng không sợ quân đội Pháp, ông tham gia cách mạng rồi trở thành giao liên cho chiến khu dưới thời tư lệnh Nguyễn Bình và Phó Tư lệnh Khu bộ Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ. Ông cho biết: Trong công việc của mình ông đã từng gặp các vị tướng lãnh oai hùng ấy. Là dân gốc ở khu Đ, ông thuộc các đường rừng như lòng bàn tay của mình. Trên các nẻo đường của rừng hoang, ông thường mang theo một chiếc roi chiến đấu với thú dữ và một chà gạt phát đường mà khúc ruột của cán chà gạt dùng để chứa tài liệu mật. Ông trở nên nổi tiếng ở chiến khu về dùng đá và bùi nhùi làm ra lửa, ông đã phát hiện rừng củ chụp nuôi sống cán bộ vào lúc cái đói cận kề. Chuyện kể rằng: Năm 1959, chiến khu Đ bị 2.000 quân địch bao vây dài ngày, mọi ngả đường vào chiến khu đều bị chặn khiến bộ đội có nguy cơ chết đói vì hết lương thực. Lúc này, ông Năm mới sực nhớ một quả đồi có rất nhiều củ chụp, một loại củ có thể thay thế cơm. Ông Năm vùng dậy, thông báo cho bà con đi đào củ cho bộ đội. Nhờ củ chụp của Năm Nổi và bà con mà bộ đội ta đã giải quyết được vấn đề lương thực, đánh bại trận càn của địch. Cũng từ đó, quả đồi này được đặt tên là đồi Củ Chụp hay đồi Ông Năm.
Để biết thêm về loại củ rừng này, tôi xin đi theo ông Hồng Văn Lỳ, anh rể của ông Năm Củ Chụp. Là con nuôi của ông Năm nên tôi gọi ông Lỳ là cậu Ba, hai cậu cháu lội rừng lên đồi bằng lăng gần nửa ngày đường. Thân củ chụp là dây, sợi dây mỏng manh như loại đảng sâm Núi Bà giáp với Đắk Lắk. Thân dây to gấp hai lần chiếc tăm xỉa răng, lá nhỏ thuộc loại dây bụi, chúng bò uốn lượn trên các loại cây lùn khác, phải thật tinh mắt mới nhận ra. Đến khi phát hiện cậu Ba chặt một thân tre lồ ô dài hai mét, chẻ thân ngọn rồi nới rộng xòe ra như chiếc nơm úp cá buộc dây mây theo vòng ngoài. Sau đó phát dọn chỗ ngồi rồi dùng cán tre dọng xuống. Mỗi lần kéo lên là mỗi lần tháo đất dính vào thân tre, cứ thế phải đến một vài ngàn lần mới lấy được củ chụp. Trong chuyến đi với cậu, trung bình hai tiếng đồng hồ mới được một củ dài từ 4 đến 6 tấc to bằng cổ tay con người. Củ chụp ăn rất ngon, nếu nấu canh với thịt voọc có thể nói chưa có món ăn nào là đối thủ. Buổi chiều tôi thường sang nhà cậu Ba, hai cậu cháu nằm trên võng mây bên cạnh dòng Sa Mach rì rầm, cậu dạy tôi nói tiếng Chơ Ro rồi kể một thời oanh liệt của mình. Có lúc mợ Ba ngồi trên sàn nhà bếp khúc khích cười như nhớ lại một thời ký ức.
Làng Chơ Ro ngày trở lại
Đường nối từ huyện Vĩnh Cửu đến Lý Lịch bây giờ đã đổ bê tông nhựa nóng mang tên tỉnh lộ 761. Con đường xuyên qua chiến khu Đ hôm nay như con rắn khổng lồ uốn lượn giữa đại ngàn, có lúc nằm chênh vênh giữa triền núi. Rừng Mã Đà, một thời được mệnh danh “sơn cước anh hùng tận” nay hai bên đường vàng rực hoa cây giả tị, tím cả chiều hoang của loại hoa bằng lăng đá và chen chúc màu xanh của sao, dầu, gõ mật, cẩm lai, gõ đỏ...
![]() |
| Tỉnh lộ 761 Phú Lý. |
Toàn Phú Lý bây giờ đã phủ điện lưới quốc gia. Hàng trăm căn nhà sàn của bà con Chơ Ro thưng gỗ lợp tôn 20 năm trước được Nhà nước tặng đã ngả sang màu nâu sẫm, có nhiều nhà xây mới mọc lên bên cạnh, nhưng gần như những căn nhà sàn bếp ở phía sau vẫn làm bằng tre mum, lợp tranh để giữ lại ký ức một thời. Năm 2009 tỉnh Đồng Nai đã tặng cho bà con một ngôi nhà dài trị giá 3 tỉ làm khu văn hóa lưu giữ cổ vật của buôn làng. Tôi tìm đến ông Năm, người cha tinh thần của tôi hơn 20 năm về trước. Lúc tôi đến, ông đang ngồi dưới bậc thang bằng cây rừng, đôi mắt nhắm nghiền như nhớ lại một thời trai trẻ. Trong cuộc hội ngộ này, tôi là người có lỗi, vì ở với người cha tinh thần được vài ngày rồi biền biệt ra đi tận 20 năm. Tuy nhiên khi được gặp nhau, cha con mừng mừng tủi tủi. Đã bao năm, ông Năm vẫn ở ngôi nhà sàn bên kia bờ Sa Mach, vì ông muốn giữ lại ngôi nhà Chơ Ro hình ảnh một thời gian khó của buôn làng. Vào tuổi 85 nhưng đôi mắt vẫn còn quắc thước, nước da vẫn mang màu nâu của rừng, chòm râu dài, trắng như cước. Hơn hai mươi năm trước đây, cha Năm của tôi không treo một chứng tích gì trong nhà, nhưng bây giờ trên vách hàng chục tấm huân chương, huy chương, những tấm hình lồng trong khung kính treo san sát trên vách. Trong số đó, có hình chụp chung với nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, Đại tướng Mai Chí Thọ… và nhiều cán bộ cao cấp khác mà cha từng tiếp tế trên đồi Củ Chụp năm xưa. Điều đặc biệt trong nhà có hơn 200 hiện vật của làng và của chiến tranh ông lưu giữ như một bảo tàng gia đình. Người có tuổi sống bằng quá khứ, cha tôi thường kể thời gian khổ của buôn làng mình, giải thích luật tục, truyền thuyết dân tộc Chơ Ro và kêu gọi mọi người đoàn kết thương yêu nhau. Ông thường căn dặn lớp trẻ: “Người Chơ Ro của mình đời sống khá và văn minh bây giờ là nhờ Bác Hồ và Chính phủ vẽ đường chỉ lối mới có được hôm nay”. Là người tôn trọng chữ tín từ thời Trung tướng Nguyễn Bình, nên tiếng nói của ông cả dân làng và chính quyền địa phương đều lắng nghe. Trong cõi người ta không phải người nào cũng có một quá khứ đẹp để lúc cuối đời còn để lại tiếng thơm, lời nói của mình được người khác ngả mũ cúi đầu. Cha Năm của tôi hiện thân một mẫu người như thế.
* * *
Buổi chiều, tôi tìm đến cậu mợ Ba Lỳ, tìm đến dòng suối Sa Mach nơi một thời hai cậu cháu nằm võng hát đong đưa. Các con của cậu từ Tư Lượm, Ba Khoan đã già theo năm tháng. Khi đến bụi tre mum, nghe tiếng ru con của một phụ nữ Chơ Ro trầm bổng hòa với âm thanh kẽo kẹt đầu nhà. Tôi mò đến lại nhận ra bé Nương, con út của cha Năm Nỗi. Hai anh em gặp nhau ôm chầm như hồi còn bé. Út Nương hỏi tôi bằng tiếng Chơ Ro “ Anh Sáu còn nhớ tiếng Lý Lịch không!”. Tôi không trả lời, cầm võng đong đưa hát với âm điệu kéo dài “A a a a.. pín gié kon / en me hom pó wa / en a nhín ơ kon / Mâu pó wa mất gé / mâu mất gé biên sa / pờ ngoặc mất gé tốc ai pu, ờ hơ… (ngủ đi con, để cho mẹ giã lúa. Ơ! nín đi con! Không có lúa không có gì ăn, mẹ không có sữa cho con bú đâu!)”. Cả hai anh em tôi đều nhỏ nước mắt, khi nhắc lại một thời vui buồn từ lòng hồ Trị An đến việc lũi rừng giữa vàng và máu. Thời ấy nay đã thành ký ức


