Mênh mang rượu, trà ở petite Paris
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2013, Việt Nam mất 6.000 tỉ đồng ăn nhậu hằng năm. Vì thế, tháng 7 năm 2014, Bộ Y tế ban hành văn bản cấm bán bia, rượu sau 22 giờ nhằm tiết kiệm tiền bạc, bảo vệ an ninh và sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng. Ở xứ mình, các quán bia, rượu thường tập trung ở khu đông dân cư. Nơi nào có nhiều quán nhậu, nơi ấy ồn ào như phiên chợ sáng. Đà Lạt là thành phố du lịch, hằng ngày chủ và khách xuôi ngược khắp chốn phố phường, nhưng nơi đây vẫn còn khá lặng lẽ, yên bình như trời xanh mây trắng.
Nếu nói Thủ đô Paris của Pháp với dân số 2,5 triệu người, nhưng hằng năm đón 25 triệu du khách. Thì Đà Lạt, thành phố được mệnh danh là tiểu vùng Paris (petite Paris) với dân số 212 ngàn người, hằng năm tiếp đón gấp 20 lần (năm 2013 là 4 triệu lượt người). Du khách đến Đà Lạt không chỉ để đổi gió, ngắm mình trong sương mù giá lạnh mà còn thưởng thức các món ăn thức uống cao nguyên. Trong đó cà phê nóng và rượu là hai món chủ lực để bão hòa nhiệt độ trong người, khi đối mặt với tiết trời tê cóng. Nhưng có một điều, chỉ có người trong cuộc mới nhận ra: quán cà phê, rượu nào ồn ào nhất, trong đó rất ít hoặc không có mặt người Đà Lạt.
| Cô gái bên hồ Xuân Hương. |
Tôi quen thân với anh Minh Hoàng, vị lãnh đạo có chức sắc của tỉnh đã nghỉ hưu. Anh là dân định cư Đà Lạt trên 60 năm, xuất thân từ đại học quê mình thời chế độ cũ. Về hưu có thời gian rảnh rỗi, nên anh chuyển sang nghiên cứu về Đà Lạt xưa cũng để trải lòng, và theo anh nói để có cơ hội gặp các anh em cầm viết. Trong giới quan, có chức vụ cao về vườn, hằng ngày mở cửa tiếp khách, lúc rảnh cầm bút được người đọc, người đến thăm chơi trân trọng là điều quý hiếm. Cứ mỗi lần lên Đà Lạt, tôi điện thoại hẹn anh, rồi hai anh em kéo nhau ra quán cà phê đường Trần Quý Cáp. Nơi ấy chúng tôi có thể trải lòng về Đà Lạt xưa, một thời xứ sở sương mù chưa bị con người “đổ bộ” vào từng ngõ ngách. Và cũng từ cách nhìn nhận phân tích của anh về đất và người Đà Lạt. Tôi vỡ lẽ ra nhiều chuyện.
Cà phê và người ở xứ mù sương
Đà Lạt, cao nguyên bạt ngàn thông với màu thiên thanh vô tận đã làm cho tâm thức con người trở nên nhẹ nhàng và gần gũi với thiên nhiên. Với 120 năm hình thành, khởi đầu bởi người Pháp nên Đà Lạt mang kiến trúc châu Âu, trong đó cái thú uống cà phê cũng mang phong cách của người Pháp. Những quán cà phê lịch lãm, lâu đời ở Đà Lạt cũng là nơi gặp gỡ của nhiều người, nhiều giới, lúc rãnh rỗi họ đến quán ngồi hàng giờ để chia sẻ, đàm luận về các đề tài thời sự nóng hổi từ chính trị, văn hóa, nghệ thuật đến chủ quyền quốc gia... Người ta bảo cứ ra quán là gặp bạn cùng sở thích, nghe được nhiều chuyện và biết được nhiều thứ.
Thú uống cà phê ở xứ lạnh này không dành riêng cho đẳng cấp nào, từ giới bình dân cho đến những nhà chính trị, trí thức, kinh doanh… họ đến để thưởng thức một không gian lãng mạn, một ly đen nồng ấm với dòng chảy cuộc đời. Bên cạnh quán phố lâu đời, còn có những quán cóc hoặc vỉa hè cũng vẫn mang phong cách như thế! Cuộc gặp gỡ không biên giới, không phân biệt thành phần, đẳng cấp đã khiến con người dễ gần gũi với nhau. Vì thế, khách mới đến thường nhận xét “Người Đà Lạt sang chứ không giàu”!
| Trường Cao đẳng Đà Lạt. |
Vào quán, người ta có thể phân biệt ngay dân bản địa với khách phương xa, qua cách ăn mặc và lối ứng xử. Ở Đà Lạt, khó tìm thấy dân địa phương mặc quần cộc, áo thun, đi dép lê vào quán cà phê, dù đó là quán cóc như ta vẫn thường thấy ở nơi khác! Bởi dân Đà Lạt đã có thói quen lâu đời là bước ra khỏi nhà đều ăn mặc tươm tất, hiếm thấy phụ nữ mặc đồ bộ ra đường dù chỉ vài bước chân và cũng hiếm thấy các cháu gái tuổi teen mặc quần soóc ngắn ngủn hiên ngang đi phố. Mà nếu có, chỉ là con số nằm trong 20 triệu lượt khách hằng năm hay là dân mới nhập cư khoảng 10 năm trở lại.
Quán cà phê ở Đà Lạt hiện nay đã lên đến con số ngàn. Chúng được con người cho mọc lên từ đỉnh đồi, lưng chừng núi, dưới thung lũng, trong rừng, bên suối, chân thác, ven hồ, trên mặt nước… đi đâu cũng gặp. Mỗi quán cà phê đều có dáng vẻ, trang trí khác nhau theo trình độ thẩm mỹ của người chủ, nhưng có nét rất chung là đều theo gam màu ấm, trung tính với nhạc nhẹ du dương làm nền cho câu chuyện của khách. Một số quán thường treo hình ảnh Đà Lạt xưa trên tường. Dù cho nằm ở bất cứ vị trí nào, rộng hẹp có khác nhau nhưng cách thiết kế, bố trí làm cho khách có cảm giác như một góc nhỏ tĩnh lặng, bình yên, thư thái cho mình.
Nếu như người uống trà sành điệu thường chọn những bộ ấm chén bằng đất nung mộc mạc, thâm trầm như cổ vật để nói lên cái thanh cao của trà đạo thì các quán cà phê ở đây thường dùng ly thủy tinh hoặc sứ trắng đề làm nổi bật màu cà phê nồng ấm. Ở Đà Lạt thường pha cà phê nóng kèm theo ly trà Đồn Đất hoặc Thái Nguyên, khó tìm thấy quán nào dùng ly nhựa hoặc ly có màu tối. Nhân viên phục vụ ở các quán, tính chuyên nghiệp không cao nhưng có lối ăn mặc nghiêm chỉnh, nói năng lễ phép, thái độ thân thiện từ bài vỡ lòng nhập môn mang phong cách Đà Lạt của chủ quán.
Cà phê đến với xứ sương mù từ người Pháp, nhưng dân ghiền cà phê ở Đà Lạt lại không thích uống loãng như người Âu, mà đậm đặc theo cái gu của người Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ có câu cửa miệng khá hay: “Cà phê phải đen như địa ngục, phải đắng như tử thần và ngọt ngào như tình yêu (Coffee should be black as Hell, strong as Death and sweet as Love)”. Người ta cho rằng phải uống cà phê như thế mới đã!
Người Đà Lạt có một thú vui tao nhã: Bạn bè gặp nhau mời đi cà phê, cần trao đổi công việc hoặc bàn chuyện kinh doanh cũng mời đi cà phê… Mặc dù có nhiều người vào quán chỉ uống nước ngọt, uống trà hay một thứ gì khác nhưng vẫn là “đi cà phê nhé!”. Cà phê ở Đà Lạt như một nét văn hóa mở đầu trong giao tiếp. Đến quán, vào mùa đông dù trẻ hay già vẫn có thói quen mang mũ len trùm đầu, loại mũ dành cho các nhà sư ra đường. Không khí trong quán trầm lắng với tiếng nhạc nhè nhẹ vừa đủ nghe để khách có thể nhỏ to tâm sự hoặc chuyện vãn với nhau, tất cả tạo nên một không gian lãng mạn đặc trưng của vùng cao nguyên này.
Sẽ rất thú vị khi ngồi ở quán cà phê vào mỗi sáng sớm khoảng bốn đến sáu giờ, sương mù lạnh cóng phủ lên mặt hồ, ôm chầm lấy phố. Và buổi tối, ánh đèn đường vàng nhạt chiếu xiên qua màn sương giăng, có tiếng vó ngựa lóc cóc gõ trên mặt đường, gió nhẹ từ những đồi thông thổi về lạnh buốt. Mọi người đưa tay áp lên mặt để giữ ấm, ngồi bên tách cà phê nóng thơm lừng trong không gian yên tĩnh để cảm nhận cuộc đời mến thương, cũng là một cách thưởng thức cà phê.
Những năm gần đây, không chỉ người Đà Lạt mà cả lữ khách cũng đều nuối tiếc, vì môi trường thiên nhiên cũng như môi trường xã hội đang trên cung đường lạm phát. Nhà cửa, công trình mới, xây cất lộn xộn cái đẹp nên thơ của Đà Lạt cứ mất dần, nhấn chìm nét đặc thù hoang sơ mà hùng vĩ trải qua bao mùa mưa nắng. Kiến trúc Đà Lạt cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào của dân bản địa và sự say mê của khách khi người ta muốn tìm về cổ sử. Nhưng cũng may du khách vẫn còn yêu thích những tối lang thang đi trên những con đường bậc thang cao thấp, cảm nhận được mùi cà phê len vào khứu giác, vẫn còn thú vị với những buổi sáng ngồi một góc quán nhìn ra đường mù sương, thấy phố phường thức dậy.
Chuyện ghi từ quán rượu
Trái với quán cà phê tĩnh lặng, cười nói nhẹ nhàng, tiếng nhạc du dương thì quán nhậu là nơi nhốn nháo, xô bồ, nồng nặc mùi rượu thịt, quyện với mùi mồ hôi và khói thuốc lá do con người tạo ra.
Không bàn về chuyện rượu bia của người lớn trên đất nước mình. Vì hiện nay, việc nhậu nhẹt trở thành quốc nạn, đối với một quốc gia mà mức thu nhập GDP tính theo đầu người và năng xuất lao động có tên tuổi ở khối ASEAN. Tôi ghé vào quán nhậu dành cho sinh viên ở gần khu đại học. Mục đích để xem lớp trẻ có học thời nay quan tâm về vấn đề gì khi rượu vào lời ra và cũng muốn nhìn thấy những sinh viên sử dụng nguồn tiền chu cấp từ bố mẹ như thế nào.
Đúng 5 giờ chiều với bộ quần áo xộc xệch lấm tấm bụi đường và gương mặt nhầu nhĩ, tôi vào làm quen chủ quán nhậu dành cho sinh viên. Chủ quán là một phụ nữ khoảng 45 tuổi, mới nhìn khuôn mặt tôi biết chủ quán không phải là người Đà Lạt. Chị quét mắt nhìn tôi với nét mặt không vui rồi lầm bầm: “Lại thêm một thằng cha thất tình, sáng nay đã gặp một thằng trẻ rồi, sao hôm nay đen thế!”. Chị đốt một tờ báo cũ hơ hơ trong tủ chất đầy đùi gà chiên vàng ươm trên đĩa như đốt phong long. Để khỏi dài dòng, tôi kêu một ly đen và tự phịa ra mình là một “lều” xã hội học đang nghiên cứu đề tài sinh viên ăn nhậu. Chị nhìn tôi bằng đôi mắt ngờ vực “Ối xời! bây giờ 1 mét vuông có hai người mệnh danh, tin làm sao được mấy cha! Việc ông thì ông cứ làm, ngồi đó đi, chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ đâu!”. Sau vài phút chị nhận ra tôi không hách dịch hay ra lệnh như những người chị đã từng gặp, nên vội vã pha cà phê mang ra cho tôi, lầu bầu: “Tôi là dân buôn bán, khách hàng gọi là tôi bưng bê để kiếm sống, nhưng nói thiệt một số em sinh viên bây giờ ăn nhậu “lầy lội” lắm. Uống cho lắm rồi ói mửa, chửi thề. Nhận “lương” bố mẹ hằng tháng, rồi dựa vào ngàn lẻ một lý do để ăn nhậu như: Thất tình, mới cưa đổ hoặc chia tay một em, làm bài thi không được bị nợ môn… là các chàng, các nàng lại rủ nhau ra quán nhậu. Hôm nào nhiều tiền thì bia lon Sài Gòn, gọi mồi “xịn”; hôm “cạn lương” thì gói đậu phộng da cá, ít rau xào, rồi móc trong túi ra chai rượu đế. Có đứa ngồi nói dai nhách về kinh nghiệm “cưa đổ em đẹp trong vòng 1 tuần” rồi cả nhóm nhao nhao lên hai ba Zô, điếc cái lỗ tai. Sinh viên gì không nghe bàn chuyện học hành, toàn nghe ăn chơi. Nghĩ tội cho cha mẹ chúng nó, còng lưng làm bồn cà phê, trèo đồi hái chè, chắt chiu từng đồng dồn sức lo cho con học hành”. Bà độc thoại, chì chiết một tràng dài như lập trình có sẵn. “Đâu phải sinh viên nào cũng thế!”, tôi hỏi. “Chuyện trong trường tôi không biết, chứ ở quán này là như thế! Ông không tin cứ ngồi đó chút nữa rồi biết!”. Người chủ quán có gương mặt chanh chua ngoe nguẩy bỏ đi vào trong, sau khi trút hết sự bất bình xã hội.
Khoảng vài phút sau, có 7 em: 5 trai 2 em gái với gương mặt vui như tết sà vào quán nói líu lo. Một em khệnh khạng đứng dậy búng 2 ngón tay kêu cái tróc: “Cho một ca bia hơi với 7 cái ly, 4 bánh tráng nướng, hai đĩa đậu khuôn chiên, kèm theo nước mắm!”. Trong lúc chờ đợi, một cô gái nói “Chiều nay ông Hải nhà mình hơi bị thiểu năng, tranh luận với thầy làm gì, vài bữa ổng đì cho tới bến. Ông này chắc chờ tới lúc xuống âm phủ mới rút kinh nghiệm cho kiếp sau”. “Thôi bà ơi! Mấy ông thầy đồng huyết dạy chán lắm”. “Thầy đồng huyết là gì! Ông giải thích cho tui nghe coi!”, cô gái hỏi lại một cách vùng vằng. “Đúng là bà đầu to mà óc như trái nho. Đồng huyết là sinh viên học giỏi, tốt nghiệp được giữ lại, lấy luôn thạc sĩ tại trường rồi làm phụ giảng, gọi là đồng huyết vì kiến thức cũng home stay (ý là tại trường)”. Một em khác thấy gương mặt có dáng dấp lãnh đạo lớp tuyên bố: “Đây là câu hay nhất trong ngày, nào nâng ly hai ba Zô!”. Cả nhóm hò hét như chỗ không người. “Bây giờ không bàn chuyện học nữa, chuyển qua chuyện thằng Hùng sẹo, mẹ nó điện thoại cho tao ngày hôm qua, nhờ lớp mình cứu nó. Thằng Hùng bị thi lại 3 môn vì tội cao thủ game online (trò chơi trực tuyến). Gia đình nó tao biết, ba nó mê bà hàng xóm có chồng dẫn nhau đi Buôn Hồ, mẹ nó nuôi 4 đứa. Hùng sẹo là con đầu, bà ấy quyết chí cho nó học nhưng nó buồn đời trốn đi uống rượu rồi trở thành cao thủ game”. Người có vẻ là lớp trưởng đề nghị. Cả nhóm lại nhao nhao. Một em nam cho ý kiến: “Quá đúng, lớp trưởng chí phải. Hùng sẹo năm hai còn học giỏi, tui sẽ vận động cả lớp cứu nó, tui gặp mẹ nó rồi, bà ấy khóc tội lắm. Nhà thằng nào, con dân nghèo học giỏi mình ra tay còn mấy thằng con các đại gia quyền lực, kệ mẹ nó!”.
| Đại học Đà Lạt. |
Đến 8 giờ đêm quán nhậu dành cho sinh viên không còn chỗ trống. Có nhóm còn mang theo cả đàn ghi ta để hát và vỗ tay đôm đốp. Nội dung nói chuyện vẫn là sinh hoạt đời thường, không thấy xuất hiện các đề tài: Văn hóa, xã hội, học thuật trong và ngoài nước hay chủ quyền quốc gia ngang tầm kiến thức của tầng lớp trẻ có học.
Và tủ rượu của trọc phú
Mới đây, tôi được hai đại gia mời đến thăm chơi những ngôi biệt thự mặt tiền xinh đẹp từ quen biết tại quán cà phê. Họ không phải là dân gốc Đà Lạt, hay nói đúng hơn định cư tại thành phố này trên dưới 20 năm. Cả hai người giàu có này đều giống nhau là mập tròn, da mặt hồng tươi, quần áo sang trọng và có hai tủ rượu âm tường ba ngăn đầy ắp những chai rượu ngoại màu hổ phách. Hai ông chủ thi nhau giới thiệu về lịch sử, xuất xứ các loại rượu cũng như quá trình rượu tìm đến nhà ông. Các vị trọc phú ấy xem tủ rượu của mình gần như là văn hóa vật thể và phi vật thể của gia đình, họ xem rượu như tài năng và quyền lực của một gia tộc và đương nhiên những hạng người ăn mặc xuề xòa, không có nước hoa, không có xế hộp như tôi chỉ được phép đứng uống rượu no tai. Cả hai gian phòng khách lộng lẫy không tìm đâu ra tờ báo hay tủ sách chỉ có hai con sư tử đá to hơn nắm đấm nhe răng nhọn hoắc biểu tượng cho sự hung hãn của loại thú hoang dã.
Thời tiết ở Đà Lạt không biết vì lý do gì mà những người được sinh ra tại đây: Con gái khi bước sang thiếu nữ da dẻ hồng hào, còn con trai đến tuổi vỡ tiếng nước da chuyển sang màu ánh trăng mốc mốc, xương xương như người mẫu. Hiếm thấy dân gốc Đà Lạt mập tròn bệ vệ, với màu da ửng đỏ. Những đặc thù ấy chứng minh rằng hai đại gia kia không phải là dân Đà Lạt gốc. Điều tôi chú ý là các con cháu của họ có trọng lượng tỉ lệ nghịch chiều cao. Khi đi học, đi làm về không chào bố mẹ cũng không chào khách lạ, chúng nó lầm lũi đi về phòng riêng. Chẳng lẽ, trong hai ngôi biệt thự sang trọng kia, đồng tiền vào cửa trước đồng nghĩa văn hóa gia đình đi ra cửa sau.
Nhìn tủ rượu tây âm tường của các vị trọc phú, tôi bỗng nghĩ đến tủ sách của người Do Thái. Đó là một quốc gia nằm ở khu vực Trung Đông bên cạnh Địa Trung Hải chỉ có 8 triệu dân, nhưng ở Do Thái có tới hơn 1.000 thư viện công cộng với nhiều sách quý. Trong gia đình, việc hình thành, xây dựng thói quen đọc sách từ khi nằm nôi cho trẻ con, gần như người Do Thái nào cũng đều có tủ sách đặt ở nơi tiện lợi nhất. Cho đến nay người Do Thái hiện vẫn sử dụng hình ảnh con lừa thồ sách để dạy các con mình. Họ cho rằng, nếu đọc sách mà không biết ứng dụng vào thực tế từ sách đó trí tuệ chết. Và để có thể ứng dụng, trẻ em Do Thái không ngừng đọc sách và tích lũy kiến thức từ nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau”.
Tôi nhớ có một lần được vào thư viện của trường đại học lớn vào lúc 8 giờ đêm, mới nhận ra số lượng các em ở quán cà phê và quán rượu nhiều hơn ở thư viện. Theo Tiến sĩ Alan Phan, người có hơn 25 năm làm việc ở nhiều quốc gia trên thế giới, ông cũng là người Việt đầu tiên đưa một công ty lên sàn chứng khoán, nhận xét: “Ở các nước Âu - Mỹ, thời gian rảnh sinh viên thường ngồi trước máy tính đọc tin tức, tìm thông tin hay đọc sách, còn sinh viên Việt Nam, họ đang bận chém gió tại các quán cà phê. Tại các nước phương Tây hoặc Nhật Bản, hình ảnh chúng ta thường thấy trên xe buýt, tàu điện ngầm hay ngay cả trên đường phố là hình ảnh các bạn học sinh, sinh viên say sưa với cuốn sách trên tay”.
* * *
Buổi tối hơn 10 giờ, tôi rời khỏi quán nhậu đi bộ dọc theo đường Đinh Tiên Hoàng, thấy một nam thanh niên đang đứng quay mặt vào hàng hoa dại “giải quyết nỗi buồn” cất cao giọng hát kéo nhựa “Chỉ có bia mới hiểu, bụng mênh mông nhường nào/ Chỉ có bụng mới biết, bia đi đâu về đâu…”.
Tôi đoán cu cậu này không phải là dân sinh ra ở Đà Lạt. Vì tiểu vùng Paris, một thành phố được cả nước xếp loại là khu du lịch thân thiện, sạch đẹp không có đèn xanh đèn đỏ. Nơi ấy con người sống hòa mình với thiên nhiên với rừng thông xanh và hoa ly trắng muốt. Nơi ấy lớp trẻ sinh ra và lớn lên được cha mẹ trang bị nền văn hóa sông Hồng, sông Hương, hành trang mà các tiền nhân mang vào cuối những năm 30 nhuộm vùng đất mới. Và nơi ấy còn có ngôi trường đại học cổ kính 60 năm tuổi được mệnh danh là Haward ở Tây Nguyên.