Một gia tộc ở xứ trà B’Lao

08:00 11/02/2015
“Sản phẩm trà Việt của nước mình hiện nay đã vượt ra lãnh thổ, hội nhập với thế giới rộng lớn. Bao đời nay thương trường là chiến trường, mà đã là chiến trường phải có kẻ thắng người thua. Đối với các nhà doanh nghiệp thua ngay trên sân nhà của mình mới là nỗi đau”, ông Lại Thế Cần, chủ doanh nghiệp trà Ôlong Tam Dương tâm sự với tôi, khi hai anh em song hành trong trang trại của ông theo triền đồi gió lộng.

Tôi biết ông Cần lần đầu tiên vào năm 2010 tại nông trại trà Ôlong của ông ở huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Ông Cần trên 50 tuổi với thân hình vạm vỡ cao lớn, da ngăm đen và tiếng nói vang như một võ tướng. Ông là con ruột của ông Cai Liêm, một trong những ông Cai đồn điền chè có tên tuổi vào đầu thập niên 40 của thế kỷ trước tại B’Lao xưa.

Thế hệ chè thứ nhất

Cao nguyên Lâm Viên, nơi người Pháp trồng chè trên diện rộng vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Điều ấy có nghĩa là nghề chè tại đây đã có bề dày 80 năm, trong đó ông Cai Liêm gần như trải nghiệm cả đời mình với cây chè tại vùng đất hoang sơ này.

Ông Cai Liêm tên đầy đủ là Lại Thế Liêm, sinh năm 1917 tại Nam Định, đi phu vào Nam năm 1939, về B’Lao làm việc tại trung tâm cây giống cho Pháp từ năm 1943. Ông Liêm không những thông thạo tiếng Pháp mà còn sử dụng tốt thổ ngữ K’Ho. Trong nghề nghiệp của mình, ông nhớ chính xác những con đường cắt rừng vào buôn, cũng như tính cách của các già làng theo từng bộ tộc.

Sau năm 1943 ông trực tiếp làm việc cho các đồn điền chè của Pháp tại BLao, được phân công làm Cai (đốc công) với nhiệm vụ mộ phu và hướng dẫn kỹ thuật trồng chè cho người bản xứ. Là người sống và làm việc có trách nhiệm nên được các chủ đồn điền Pháp tin cậy.

Năm 1946 khi nghe Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia Vệ Quốc Đoàn, trực tiếp lãnh đạo một đơn vị vũ trang tại B’Lao, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh bất ngờ làm thương vong cho quân Pháp ở địa phương.

Năm 1948, ông bị bắt và bị kết án tử hình nhưng nhờ mẹ ông, người đã làm hết sức mình để cứu con. Thông qua một vị linh mục, bà biết được viên khâm sứ Pháp sẽ đi kiểm tra B’Lao, nên bà đội đơn quỳ giữa đường ở Cầu Trắng (đường 28 tháng 3 hiện nay) chặn xe xin tha tội chết cho con. Cảm động trước tấm lòng của người mẹ thuộc địa, viên khâm sứ cho xe dừng lại trực tiếp xem đơn rồi phê duyệt tại chỗ chuyển ông Cai Liêm thành tù giam. Đến năm 1950, ông ra tù, trở lại nghề chè B’Lao “một tôm hai tép” cho đến ngày đất nước thống nhất.

Thế hệ chè B’Lao thứ hai và thứ ba

Ông Lại thế Cần sinh năm 1957 tại xứ chè, người yêu B’Lao đến kỳ lạ. Ông kể cho tôi nghe vanh vách từng sự kiện trên các con đường, từng đồi chè cũng như tính cách từng ông chủ đồn điền đã thành công và thất bại. Có thể nói, dải đất cao nguyên này, nơi đâu cũng đầy ắp kỷ niệm từ thời ông bà nội đến bố mẹ và tuổi thơ của ông. Mỗi lần đi qua con đường đẹp nhất của thành phố Bảo Lộc hiện nay, ông hình tượng bà nội ông đang quỳ đội đơn giữa đường, khi đi Lộc Thành ông mơ hồ nhìn thấy bố đang cưỡi ngựa vào buôn để thuê mướn nhân công, vào Lộc Nga lại nhìn thấy mẹ đang hướng dẫn kỹ thuật trồng chè cho cư dân bản địa… Đất và chè B’Lao đã trở thành máu thịt của ông.

Sau ngày đất nước thống nhất, 100ha đất trồng chè của gia tộc họ Lại chuyển sang sở hữu toàn dân, ông chuyển sang làm xà phòng mang tên B’Lao, rồi làm việc cho công ty lâm sản. Vào thời bao cấp, cho dù làm việc gì để kiếm sống, nhưng khi có dịp đi ngang đồi chè, ông vẫn đau đáu mong được trở về nghề của gia tộc mình như một khát vọng cháy bỏng đời người. Với ý chí vươn lên, ông vừa làm vừa học rồi tốt nghiệp đại học kinh tế chuẩn bị cho con đường đi lên bằng trí tuệ.

Sau năm 1990, tỉnh Lâm Đồng cho phép các tổ chức và cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư nghề chè. Hầu hết các doanh nghiệp như Nhật, Trung Quốc, Đài Loan đều chỉ thuê đất để xây dựng xưởng và trồng chè Ôlong trên đồi cao. Là dân trồng trà chuyên nghiệp, ông Cần luôn trăn trở tại sao các nhà đầu tư này chỉ quan tâm đến trà Ôlong trên vùng đất sỏi! Vậy việc chế biến và thị trường tiêu thụ khác với loại trà truyền thống của Việt Nam như thế nào?

Vào thời điểm đó chưa có Internet toàn cầu nên ông phải tự thân lặn lội tìm tư liệu về nghề trồng trà Ôlong trong và ngoài nước. Hiện nay trong nhà xưởng ở giữa rừng của ông có cả một thư viện đến vài ngàn đầu sách về nghề chè bằng tiếng Việt, Hoa, Anh và Pháp. Từ kiến thức của nhân loại về trà Ôlong, ông biết được đặc tính của loại chè này từ trồng đến chế biến và thị trường. Ông Cần tâm niệm muốn làm nghề gì phải trở thành chuyên gia về nghề đó.

Trà Ôlong xuất hiện tại Việt Nam từ sau cuối những năm 80 được trồng từ Mộc Châu, Hà Giang, Lào Cai… giống do người Đài Loan mang đến, nhưng tại Lâm Đồng loại trà này phát triển tốt và có vị rất đặc trưng đúng với nguồn gốc. Đây là loại trà chất lượng cao, hương vị tự nó tỏa ra sau khi ủ theo một lập trình kỹ thuật chứ không cần thêm phụ liệu. Hiện nay trà Ôlong ở Lâm Đồng đa số nằm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Là người xuất thân từ một gia tộc có bề dày về nghề chè, ông Cần trăn trở rồi quyết định chuyển sang trồng chè mới này. Dựa vào năng lực kinh tế và kiến thức nghề nghiệp hiện có, năm 2003 ông chọn xã Lộc Quảng nơi vùng đất đồi khô thoáng để trồng thực nghiệm 4ha. Ông tập hợp vài người có chút ít kinh nghiệm và sống chết với nghề vào làm việc. Đến năm 2005, Lâm Đồng đã sản xuất được giống trà Ôlong mới, đã chắp cánh cho ông phát triển mạnh hơn theo xu thế hàng Việt Nam chất lượng cao.

Để giữ uy tín mặt hàng của mình, ông Cần cùng với công nhân có mặt hằng ngày trên đồi chè, cả chủ và thợ đều mặc những bộ quần áo xanh mang tên Tam Dương lặng lẽ làm việc giữa đồi cao với những ước mơ lớn. Đến năm 2010, công ty của ông đã trồng được 50ha chè, đồng hành với các công ty trà Đài Loan và Trung Quốc tại Bảo Lâm. Và để quản lý đến sản phẩm cuối cùng của mình, năm 2011 ông Cần xây dựng khu nhà xưởng ngay tại nông trại chè của mình. Đó là một trong những nhà máy chè Ôlong tư nhân của người B’Lao đầu tiên trên quê hương mình bên cạnh những công ty  nước ngoài đã có bề dày với lượng khách hàng bền vững.

Trong tuần lễ văn hóa trà B’Lao cuối tháng 12/2014, tôi trở lại nông trại chè của ông. Lần này diễm phúc gặp được cả gia đình. Anh chị giới thiệu các con của mình là Lại Thế Cảnh, Lại Thị Quỳnh Giao, Lại Thế Quang, Lại Thế Phong. Trong đó có hai cháu tốt nghiệp cao đẳng hóa sinh và kinh tế, riêng cháu Quỳnh Giao được học thêm nghề trà tại Đài Loan, cháu Giao nói viết thông thạo tiếng Hoa và tiếng Anh.

Tôi hỏi chuyện cháu Cảnh là con trưởng dòng họ Lại trong lúc Cảnh đang hướng dẫn thao tác cho công nhân, được cháu cho biết: “Nghề trà của dòng họ nhà cháu đã sang thế hệ thứ ba, tính từ thời ông nội, bây giờ là nghề gia truyền. Anh em tụi cháu cố gắng giữ gìn và phát huy thêm. Thời buổi thông tin toàn cầu này thương trường còn quyết liệt hơn thời của ông và bố cháu”.

Lúc chia tay, ông Cần dẫn tôi đi thăm khu nhà ở của công nhân Công ty Tam Dương. Đó là những gian phòng nối liền với nhau thành từng dãy. Tại đây công nhân sử dụng không phải trả tiền kể cả điện nước và ăn uống hằng ngày. Ông cho biết: “Người làm công chỉ hết lòng với chủ khi cuộc sống ổn định, không phải chân trong chân ngoài. Với mức lương trung bình từ 3 triệu rưỡi trở lên, được bao ăn ở, người làm công có thể sống được”.

Khi được hỏi việc 70 container chè của Việt Nam xuất qua thị trường Đài Loan “bị treo” chưa được thông quan đợt vừa rồi, ông phân trần: “Tôi cũng lấy làm lạ, vì hầu hết thương nhân Đài Loan cũng làm trà tại đây và trên bản đồ vùng chất độc dioxin tại Việt Nam năm xưa không thấy ở Lâm Đồng, chắc có điều gì hiểu nhầm nhau thôi. Nhưng nay đã tốt rồi”. Ông cười ha hả.

Trần Đại

Trong chương trình “Mãi mãi niềm tin theo Đảng” vào tối 16/1 – chương trình chính luận nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, hướng tới Đại hội XIV của Đảng, ca sĩ Anh Tú tạo nhiều bất ngờ khi giới thiệu đến công chúng ca khúc mang tên “Thưa Đảng” do chính anh sáng tác.

Trước thềm trận bán kết Vòng chung kết U23 châu Á, cái tên U23 Trung Quốc mang đến nhiều suy ngẫm lẫn tò mò. Không hào nhoáng, không áp đảo về mặt thế trận, đội bóng trẻ đến từ Đông Á lại lặng lẽ tiến sâu bằng một con đường khác biệt: phòng ngự đến tận cùng và chắt chiu từng khoảnh khắc sinh tồn. Đó không phải là lối chơi hấp dẫn, nhưng lại là một bài toán thực sự hóc búa cho bất kỳ đối thủ nào, trong đó có U23 Việt Nam.

Giữa trùng khơi, trong nhịp sóng vỗ nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc, hơn 1.900 người dân cùng các lực lượng vũ trang trên đặc khu Thổ Châu (tỉnh An Giang) đang hân hoan, tin tưởng hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc mà còn mang theo bao mong muốn, kỳ vọng về một cuộc chuyển mình lịch sử cho Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình.

Thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Công an tỉnh Điện Biên vừa bắt 1 đối tượng, tang vật thu giữ 10 bánh ma túy.

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có những chuyển dịch phức tạp, Greenland giờ không chỉ là một hòn đảo tự trị băng giá xa xôi của Đan Mạch. Tổng thống Donald Trump gần đây thường xuyên khẳng định, Mỹ phải kiểm soát Greenland để chống lại mối đe dọa từ các đối thủ ở khu vực Bắc Cực. Đặc biệt, với sự xuất hiện của hệ thống Vòm Vàng và hệ thống vũ khí hiện đại, nhu cầu kiểm soát Greenland trở nên đặc biệt cấp thiết.

Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Những ngày gần đây, dư luận cả nước đặc biệt quan tâm đến thông tin báo chí phản ánh việc xuất hiện một ngôi nhà rường bằng gỗ dựng ngay trước cổng vào bửu thành của Lăng Hoàng thái hậu Từ Dụ, đồng thời một cổng gỗ dạng tam quan cũng được dựng ở khu vực phía ngoài Lăng vua Thiệu Trị. Cả hai công trình đều do Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cho xây dựng, với lý do “phục vụ hương khói, nghi lễ” và được thực hiện từ nguồn xã hội hóa.

Với 88 ca ghép gan cho bệnh nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương hiện là đơn vị có số ca ghép gan nhi nhiều nhất tại Việt Nam, trong đó có những ca đòi hỏi kỹ thuật khó. Sau mỗi ca ghép thành công là một tương lai được viết lại, một cuộc đời được hồi sinh từ lòng nhân ái của người hiến và gia đình, cùng sự tận tâm, nỗ lực của các y bác sĩ. Ca ghép thứ 88 được thực hiện cuối năm 2025 là dấu mốc quan trọng đánh dấu lần đầu tiên Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện thành công ca ghép gan từ người hiến chết não cho bệnh nhi 3 tuổi bị teo đường mật bẩm sinh.

Ngày 18/1, Ban Quản lý dự án Chương trình phát triển các đô thị loại II (thuộc Sở Tài chính TP Huế) cho biết, đã ban hành quyết định xử phạt Công ty Cổ phần 479 Hòa Bình với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng do vi phạm tiến độ hợp đồng tại gói thầu số 28 nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ và xây dựng tuyến đường 100m nối khu đô thị A-B thuộc khu đô thị An Vân Dương.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文