Về Hà Tiên nghe chuyện tình
Ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, trên bờ đầm Đông Hồ mới có một cụm tượng những nàng tiên đang ca múa. Câu chuyện được kể lại như một cổ tích về cái tên xưa đã hình thành của mảnh đất ở cực Tây Nam này. Những nàng tiên đêm đêm đã hạ giới tắm ở đầm nước mênh mang, gió mát trăng thanh, tạo nên sự huyền ảo nơi cửa biển. Hà Tiên, một cái tên thơ mộng, hồ nước của những nàng tiên, ẩn chứa bao cảm xúc cho những ai về đây.
Người đẹp trong chậu úp
Chuyến đi của chúng tôi từ Rạch Giá theo quốc lộ 80 dài chừng 90km tới thị xã Hà Tiên. Ai đến đây cũng nghe nói đến mười cảnh đẹp ở mảnh đất xinh xắn này. Tượng đài đầu tiên mà chúng tôi dừng chân, để chiêm ngưỡng ngay tại phường Tô Châu, trước khi vào trung tâm thị xã. Đó là chân dung Mạc Cửu, người cách đây 300 năm đã có công khai phá và xây dựng mảnh đất Hà Tiên. Vậy nơi đoàn chúng tôi đến tiếp theo là núi Bình San. Tại đây có khu lăng mộ dòng họ Mạc, qua bảy đời có công phát triển và làm giàu cho mảnh đất Hà Tiên.
Chúng tôi bồi hồi đứng trước mộ Mạc Thiên Tích, người con kế nhiệm Tổng trấn Hà Tiên, sau khi Mạc Cửu mất (1655-1735). Cô hướng dẫn viên kể, Mạc Thiên Tích được chúa Nguyễn phong làm Đô đốc trấn Hà Tiên ở tuổi 30 (năm 1736). Ông không những là một võ tướng tài năng và còn là một văn nhân uyên bác. Đặc biệt ông đã thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, để hội tụ những văn nhân, học sĩ đàm đạo về nghệ thuật văn chương. Mới đây, Hội Văn nghệ Kiên Giang đã cho tổ chức kỷ niệm 278 năm hội Tao đàn Chiêu Anh Các (2014-1736). Sự tồn tại của Chiêu Anh Các tạo nên bản sắc văn hóa Hà Tiên cho đến nay.
Và cũng tại Tao đàn Chiêu Anh Các đã để lại một câu chuyện tình say đắm cho đến nay vẫn còn nhiều dấu tích để lại. Cô hướng dẫn viên mỉm cười rồi dịu giọng kể, mặc dù đã có vợ, nhưng Đô đốc Mạc Thiên Tích, tác giả tập thơ “Hà Tiên thập cảnh” nổi tiếng, đã nảy sinh tình cảm với cô hội viên của Tao đàn là nàng thơ Nguyễn Thị Xuân. Một cuộc tình say đắm giữa hai tâm hồn thi ca. Hồn thơ dịu dàng cùng với giọng ngâm thơ ngọt ngào của nữ sĩ đã hoàn toàn chinh phục trái tim đa cảm của Mạc Thiên Tích. Hai năm sau, nàng Xuân trẻ trung ở tuổi đôi mươi được rước về dinh Đô đốc, và trở thành Ái cơ thứ phi. Tình thơ càng mặn nồng, yêu thương ngày thêm gắn bó giữa hai người. Ngược lại tình yêu đó trở thành nỗi hận thù nảy sinh từ sự ganh ghét của Hiếu Túc phu nhân, vợ cả của Mạc Thiên Tích. Bà nung nấu mối thù và chờ đợi thời cơ sát hại Ái cơ.
Đợi đến ngày chồng đi kiểm tra các đồn bốt dọc biên giới, Hiếu Túc phu nhân bí mật ra lệnh cho người bắt Ái cơ, đem nhốt vào trong cái chậu sứ lớn úp xuống. Đây là cái chậu quý hứng nước mưa bấy lâu nay trong dinh thự để ở ngoài sân. Nàng Ái cơ bị bịt miệng không thể kêu. Trong chậu kín, cái nóng và cái đói đã làm nàng Ái cơ lả đi tưởng chừng sẽ chết. Nhưng không ngờ trời bắt đầu mưa tầm tã, đường trơn và lầy lội khó đi, Đô đốc Mạc Thiên Tích quay ngựa trở về. Khi ngồi nghỉ ở thư phòng, ông thấy những gia nhân nhìn ông tỏ ra sợ sệt lo lắng, nên lấy làm lạ. Khi bước ra hè lại thấy cái chậu hứng nước mưa úp xuống nên ra lệnh cho mọi người khênh vào hứng nước để pha trà. Ai ngờ trước mắt ông là Ái cơ đang trong cơn nguy kịch. Ông hiểu ra và cho các thầy thuốc tận tình cứu chữa. Tai qua nạn khỏi, Ái cơ khiếp vía không dám ở lại cùng chàng, nằng nặc đòi cho đi ở chùa.
Nàng thơ đã chán cảnh vinh hoa phú quý. Trong lòng buồn bã về kiếp nhân sinh và sự hận thù của con người. Mạc Thiên Tích đành cho xây một ngôi chùa để cho Ái cơ đến trụ trì chân tu. Đó là ngôi chùa Phù Dung còn đến hiện nay. Ngay sau đó, người hướng dẫn viên đọc mấy câu thơ: “Duyên xưa chẳng bận chi tình / Bụi trần chi để vương cành hoa sen..”. Giọng đọc của cô nghẹn ngào vì cuộc tình buồn bã trên làm tâm hồn chúng tôi cũng trĩu nặng.
![]() |
| Những nàng tiên bên Đông Hồ. |
Thế rồi cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến “Đông Hồ thi nhân Kỷ niệm đường”. Đây có thể nói là một bảo tàng văn học thu nhỏ của hai vợ chồng nhà thơ Đông Hồ và Mộng Tuyết. Cô nói câu chuyện tình Mạc Thiên Tích và Ái cơ đã được nhà thơ Mộng Tuyết, vợ ba của nhà thơ Đông Hồ viết lại thành tiểu thuyết. Cô còn cho biết chính cuộc tình của hai nhà thơ Đông Hồ và Mộng Tuyết vào những năm giữa thế kỷ XX cũng kỳ lạ. Ngôi nhà kỷ niệm ở ngay trên con đường mang tên Đông Hồ nhìn ra công viên và đầm Đông Hồ diễm lệ. Nơi đây, còn ghi lại câu chuyện cô bé học sinh Mộng Tuyết ngày nào, cứ như một cái bóng gắn bó suốt cuộc đời với thầy giáo Đông Hồ. Hai người vợ trước của nhà thơ đều bị mất trong cơn bạo bệnh. Đặc biệt người vợ thứ hai của ông còn là chị ruột của Mộng Tuyết. Thời gian trôi đi, tình yêu đã khắc sâu tự con tim, Mộng Tuyết trở thành vợ thứ ba của nhà thơ Đông Hồ như một định mệnh của tiền duyên.
Hai người đến với nhau khi tuổi đã về già, nên chỉ tập trung vào sự nghiệp và đã để lại trên văn đàn những tác phẩm chói sáng cho đến nay. Nhà thơ Đông Hồ mất năm 1969, thọ 63 tuổi, trong khi đang bình thơ trên giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Còn nữ sĩ Mộng Tuyết từ đó về Hà Tiên sống, viết sách và sống cô đơn với mối tình Đông Hồ suốt 38 năm sau đó. Bà mất vào tháng 6 năm 2007, thọ 94 tuổi.
Vẫn còn đó một cổ tích tình yêu
Hôm sau, cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến cột mốc biên giới 314, nằm giữa hai nước Việt Nam và Campuchia. Phải nói cột mốc này rất đẹp, vì ở vị trí bằng phẳng, và có đường ôtô vào tận nơi. Đây là cột mốc cuối cùng biên giới đất liền ở phía Tây Nam và cũng là cột mốc đầu tiên để phân định biên giới đường biển với nước bạn. Cô chỉ tay về phía bên phải, dọc đường biển rồi nói, Mũi Nai ngay phía trước, kế đó là Mũi Đèn, có cây đèn biển và tiếp tới là cửa khẩu quốc tế Hà Tiên-Prêch Char. Bất ngờ có người trong đoàn chỉ ngọn núi phía trước hỏi có phải là một trong những cảnh đẹp Hà Tiên. Cô hướng dẫn viên gật đầu mỉm cười rồi nói đó là núi Thạch Động, và đấy cũng là một câu chuyện cổ tích của một tình yêu. Mọi người trong đoàn thực sự tò mò. Chuyện gì vậy?
Chỉ 15 phút sau chúng tôi có mặt ở Thạch Động. Một ngọn núi vôi rỗng, tạo nên những nham thạch hình thù lạ lẫm. Khi vào động lớn, tôi mới hay trong lòng núi còn có một ngôi chùa cổ. Đó là chùa Hà Tiên. Động có hai cửa lớn phía Đông và Tây nên gió thổi vi vút suốt ngày đêm. Bất ngờ cô hướng dẫn viên chỉ xuống một ngách hang sâu trong động, rồi kể đây chính là cái hang mà chàng Thạch Sanh đã xuống giết đại bàng, cứu Quỳnh Nga công chúa. Khi vừa đưa công chúa lên cửa hang thì người anh em Lý Thông đã lấp cửa hang nhốt Thạch Sanh và đoạt lấy người đẹp. Chúng tôi ồ lên ngạc nhiên, thì ra câu chuyện Thạch Sanh-Lý Thông nảy sinh từ đây.
Để chứng minh cho nguyên cớ của câu chuyện cổ tích, cô hướng dẫn viên soi đèn cho chúng tôi nhìn xuống hang sâu. Trên vách hang có một dáng người con gái được tạo nên từ thạch nham, hiện lên rất kiều diễm. Ngay sau đó, cô lại dẫn chúng tôi đến mấy bậc đá dẫn đường lên thềm cao. Lúc này, chúng tôi thật sự ngạc nhiên, vì ở ngay cửa hang có một mỏm đá nhô ra giống như đầu con đại bàng, đang cắp công chúa về hang vậy. Tất cả thi nhau chụp ảnh, và đều thấy thú vị về nơi mà ông cha ta đã viết nên câu chuyện cổ tích bất tử này.
Nhưng lại thêm một lần chúng tôi tò mò, vì cô hướng dẫn viên hỏi có thích đến chỗ ở của chàng Thạch Sanh không nhỉ. Chính từ nơi ấy, chàng đã giương cung bắn gẫy cánh đại bàng khi cắp nàng Quỳnh Nga công chúa bay qua. Ai cũng giục đi, nhất là cánh trẻ muốn đến nơi mà chàng Thạch Sanh đã dạo những khúc nhạc nhớ thương Quỳnh Nga ra sao.
Khi đến nơi mọi người mới biết đó là núi Đá Dựng, ở cách Thạch Động chừng 4 cây số. Chúng tôi tranh thủ vào một quán hàng bán nước thốt nốt ở ngay chân núi. Bà chủ nói ngay, hang mà Thạch Sanh ở là hang “Cội Hoàng Gia” đó. Lên đó mà xem có tới 14 hang động cơ mà. Bà còn nhớ cả câu đàn của Thạch Sanh kêu than rằng, “Đàn kêu tích tịch tình tang. Ai đem công chúa dưới hang mang về…”. Sau đó bà rủa thằng Lý Thông tuy được Thạch Sanh tha tội, nhưng vẫn bị sét đánh chết đó. Thật đáng đời tên gian ác, tham lam.
Khúc vĩ thanh
Chúng tôi đang mải nhìn lên núi với nhiều cảm giác bâng khuâng, thì bất ngờ bà chủ quán còn kể chuyện xảy ra vào tháng 5/1970, tại núi Đá Dựng. Các chiến sĩ quân đội của Hà Tiên chiến đấu suốt 27 ngày đêm, chống lại một trung đoàn địch bao vây, với sự yểm trợ của máy bay Mỹ, xe tăng và pháo cao xạ. Chúng hòng tiêu diệt trụ sở tiếp tế lương thực, thuốc men và vũ khí đạn dược vào mặt trận Tây Nam. Nhưng cuối cùng chúng thất bại, bị tiêu hao nhiều sinh lực, đành phải rút lui. Bà còn kể, ở cái hang mà hồi nào Thạch Sanh ở đó, các nữ chiến sĩ cứu thương đã bao đêm chữa trị và cứu sống nhiều anh bộ đội trong trận quyết sống mái thuở đó. Bà vừa kể vừa hổn hển với cảm xúc như ngày nào chính bà đã tham gia chiến đấu. Mới đó mà đã 44 năm trôi qua.
Quả là thú vị, chúng tôi lên núi và vào hang đầu tiên là hang Thùng Thình. Nhưng âm vang, khi chuông reo, khi lại ầm ì như sóng biển. Đó là tiếng dội trong vách hang. Và nghe đâu đây, tiếng đàn Thạch Sanh năm xưa rộn ràng khúc nhạc đồng quê, và cả lời ca về nàng công chúa Quỳnh Nga vọng về. Tiếng cô hướng dẫn viên vẫn đắm đuối như lần đầu kể chuyện tình yêu. Hình như cô hát thì phải, giọng trong vắt ngỡ như những cô tiên xuống trần, ca múa trên vùng biển Hà Tiên…
