Cao Bá Quát và cái án “giảo giam hậu”

15:48 17/07/2009

Trong lời giới thiệu sách "Thơ chữ Hán Cao Bá Quát" (NXB Văn học, in lần thứ hai, 1977), nhà nghiên cứu Vũ Khiêu có một đoạn viết về sự kiện Cao Bá Quát bị bắt giam: "Về Bộ Lễ ít lâu, ông được cử làm sơ khảo trường Thừa Thiên. Trong khi chấm thi, ông thấy có những quyển khá, nhưng lại có chỗ sai phạm vào tên húy của nhà vua.

Đây chính là cảnh ngộ của những người oan uổng như ông ngày trước. Triều đình này thực ra không quý trọng nhân tài mà chỉ chú trọng đến những cái vụn vặt. Ái ngại cho những người có tài mà phạm những sơ suất nhỏ, ông đã cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa những quyển ấy cho khỏi bị hỏng. Việc bị lộ, ông bị viên giám sát là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc.

Khi án đưa lên thì vua nhà Nguyễn là Thiệu Trị, trước những lời buộc tội vô lý đối với ông, đã phải giảm cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu. Đây là bước ngoặt lớn nhất trong đời Cao Bá Quát. Cao đã từ ngục thất này đến ngục thất khác, bị tra tấn và chịu những nhục hình man rợ nhất, sống những ngày buồn bực đau khổ, uất ức, căm thù".

Tiếp đó, ông nhận định về bộ phận tác phẩm thi ca mà Cao Bá Quát viết trong ngục: "Trong trường hợp đó, có những người mất hết tinh thần, gục đầu đợi tội hoặc chờ chết. Nhưng ở Cao, những ngày trong tù là những ngày sống mãnh liệt. Sức mạnh tinh thần đó vẫn tràn ngập trong những bài thơ làm trong lúc đó".

Đặt trong bầu không khí văn hóa và tinh thần chung của giới nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại những năm 70, những nhận định trên là hoàn toàn hợp lý (mà thật ra cũng khó lòng nhận định khác được). Nhà Nguyễn, là chính quyền phong kiến không dung nạp những nhân cách lớn, và những nhân cách lớn thì không thể sống trong chính quyền ấy mà không có hành động phản kháng nhất định nào đó.

Sự kiện Cao Bá Quát vì chữa bài thi "giúp" thí sinh mà bị tù tội được nhìn ít nhiều mang tính tiên nghiệm như vậy. Cho đến nay, khi vị trí của vương triều Nguyễn trong sự phát triển liên tục của lịch sử đã được đánh giá cởi mở hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn; rồi bản thân Cao Bá Quát cũng đã được định vị theo một khung hình tác giả văn học cụ thể (với rất nhiều sự đồng thuận của giới chuyên môn), thiết nghĩ cần phải hình dung vấn đề này một cách khác đi.

Nói sao mặc lòng, việc Cao Bá Quát sửa bài thi là một cái tội: trường ốc có quy chế của trường ốc, xưa hay nay đều vậy, không ai có thể vin vào bất cứ lý do gì để bào chữa cho các hành vi vi phạm. Với tội này, thoạt tiên ông bị khép vào án trảm quyết (chém chết ngay), rồi giảm xuống thành án giảo giam hậu (giam lại, đợi thắt cổ đến chết sau), cuối cùng chỉ là bị tống ngục, rồi cho đi "dương trình hiệu lực" để chuộc tội.

Có thể trách rằng hình luật của nhà Nguyễn quá hà khắc (hẳn là so với ngày nay, nhà Nguyễn mạnh tay hơn rất nhiều trong việc xử lí những vi phạm quy chế thi cử), nhưng không thể nói rằng vua nhà Nguyễn đã không biết quý trọng người tài: việc nới tay với Cao Bá Quát là gì, nếu không phải là sự thể hiện của lòng lân tài? Nhiều giai thoại nói về việc Cao Bá Quát sửa gáy quan trên, thậm chí giễu cợt cay độc đối với vua mà rốt cuộc vẫn vô sự, lại càng giúp ta thêm phần hoài nghi trước cái huyền thoại về một tài năng lớn, một nhân cách lớn bị vùi dập bởi một chính quyền hủ bại. --PageBreak--

Vậy, phải lý giải sao đây về hành vi phạm quy của Cao Bá Quát trong tư cách ông sơ khảo của một kỳ thi Hương? Đơn giản, thì nói rằng đó là sự "ái ngại cho những người có tài mà phạm những sơ suất nhỏ". Nhưng cũng không thể loại trừ việc đó như một biểu hiện cho sự "bất cơ" (không chịu khép mình vào khuôn khổ) của một người có thừa sự tự nhận thức và tự tin vào những phẩm chất cá nhân vượt trội của mình.

Cao Bá Quát là một nhà Nho tài tử, và như hầu hết các nhà Nho tài tử, ông không thiếu sự thị tài, đặc biệt là tài năng văn chương - thứ tài năng vốn được coi là quan trọng bậc nhất trong xã hội thời đó. (Trong "Tài tử đa cùng phú", ông nói đến các đại gia của văn chương Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch không phải với tư cách là những mẫu mực để noi theo, mà là những "vật chuẩn" để ông đo tài năng của mình).

Không những vậy, Cao Bá Quát còn là người nuôi dưỡng cho mình những giấc mơ táo bạo. (Ông viết trong "Tài tử đa cùng phú": "Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đồ/ Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay tạo rắp xoay cơn khí số").

Đến chỗ này, có thể nói Cao Bá Quát đã phần nào nối được với một trong những cảm hứng chủ đạo của văn chương nhà Nho tài tử trước đó: cảm hứng về người anh hùng thời loạn. Loạn thế sinh anh hùng. Thời loạn, những giềng mối cương thường đứt tung, người tài tử không còn chịu khép mình vào khuôn khổ của những yêu cầu "trung, nghĩa" truyền thống nữa.

Anh ta mơ tới một sự nghiệp cá nhân lẫy lừng, một ngôi đế sư (thầy của vua), thậm chí không loại trừ giấc mơ vươn tới ngôi cửu trùng. Thơ văn của những tác giả nhà Nho tài tử trước đó như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Hữu Chỉnh đậm đặc cảm hứng này.

Tuy nhiên đến Nguyễn Công Trứ, người gần như cùng thời với Cao Bá Quát, biên độ của giấc mơ thu hẹp dần: sự củng cố vững chắc của chính quyền chuyên chế nhà Nguyễn đã luôn treo sẵn thanh gươm Damocles trên cổ những kẻ bạo phổi dám có "tâm tư này khác", người đã ca "Bài ca ngất ngưởng" như Nguyễn Công Trứ mà cuối cùng vẫn phải ngậm ngùi tổng kết: "Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"!

Đặt trong thực tế lịch sử như vậy, khó có thể nói rằng việc Cao Bá Quát trở thành một trong những đầu lĩnh của một cuộc khởi nghĩa, rồi cái chết sau đó của ông, là biểu hiện của tinh thần đấu tranh phản kháng mang tính cách mạng trước chính quyền phong kiến phản động. Đúng hơn, đó chỉ là sự phản ánh một dạng bi kịch của mẫu người mà ông noi theo: người anh hùng thời loạn trong lòng chế độ chuyên chế đang mở rộng quy mô tới mức tối đa.

Nhưng nói như vậy là nói trước, nói quá phạm vi vấn đề đang bàn. Trở lại với chuyện Cao Bá Quát bị hạ ngục, có thể khẳng định ngay rằng cái môi trường tù ngục khắc nghiệt, tuy khiến ông phải đau khổ phẫn hận, nhưng đồng thời môi trường đó lại là trở thành nguồn dưỡng chất để nuôi sống, để làm bùng cháy ở ông niềm tin xác quyết vào tài năng của mình. (Tinh thần vượt lên trên hoàn cảnh, không chịu để cho hoàn cảnh đè bẹp, có lẽ đó chính là điều mà Lời giới thiệu "Thơ chữ Hán Cao Bá Quát" đã khẳng định bằng câu "Nhưng ở Cao, những ngày trong tù là những ngày sống mãnh liệt").

Hai trạng thái đó đồng tồn tại và đan xen lẫn nhau trong thơ tù của Cao Bá Quát. Không ít lần ông đã hạ những câu thơ trầm thống: "Mộng hồi thành khuyết hồn nghi khách/ Lệ sái hành dương huyết binh không" (Mơ về nơi thành khuyết, hồn mình những tưởng là ai/ Nhìn cái gông cái cùm, khóc đến cạn dòng lệ máu - bài Tức sự), hoặc: "Thư thành hận tự không đề huyết/ Tửu túy ly bôi tức mộng hồn" (Chữ hận viết xong cứ khóc hoài đến nỗi trào máu/ Chén phân ly nhấp say là hồn vào cõi mộng - bài Kí hận 1).

Không ít lần ông đã phát phẫn: "Ỷ chẩm khan trường kiếm/ Hô đăng kiểm tệ cừu/ Cưỡng liên tâm lực tại/ Cơ ngọa bất câm sầu" (Tựa gối nhìn thanh kiếm dài/ Gọi đèn xem lại áo bông rách/ Bực bội vì tâm lực vẫn còn/ Mà bị giam cầm nằm một chỗ buồn không chịu nổi - bài Độc dạ cảm hoài).

Thế nhưng, vượt qua trạng thái đó, thơ tù của Cao Bá Quát lại thể hiện một sự tự tin thật đáng khâm phục. Trong bài "Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư" (Nơi nhà giam nhân việc cảm xúc, phóng bút viết ngay), ông viết: "Luật xuy Thử cốc hàn ưng chuyển/ Kiếm lạc Phong thành dạ hữu quang" (Điệu sáo thổi ở Thử cốc, khí lạnh phải chuyển/ Thanh gươm vùi dưới đất Phong thành ban đêm vẫn có ánh sáng).

Không thể rõ ràng hơn: trong ngục thất, Cao Bá Quát vẫn tự ví mình với những bảo vật, như điệu sáo mà Trâu Diễn thổi ở Thử cốc và thanh kiếm Long tuyền chôn dưới đất Phong thành. Bảo vật, dù thế nào đi nữa vẫn là bảo vật, chỉ cần gặp thời cơ là lập tức chúng sẽ hiển lộ những phẩm chất siêu việt của mình.

Cũng bởi tự tin mà Cao Bá Quát mới có thể vịnh cái gông dài một cách đầy hài hước: "Trước cước khởi tri cơ sự giới/ Phấn nhiêm trường quải tửu tinh tù/ Hà đương giá tác vân thê khứ/ Nhất tiếu thừa phong ổn xấn hưu" (Quàng vào chân có biết đâu rằng mình bị mắc bẫy/ Vểnh râu lên lấy làm lạ vì sao "ngôi sao rượu" cũng bị tù/ Ước gì đem gông này bắc làm cái thang mây/ Cười xòa một tiếng cưỡi gió mà lên cho rảnh - bài Trường giang thiên 3).

Cũng bởi tự tin mà ông mới có thể tái hiện cái cảnh bị tra tấn một cách cường điệu, đầy sinh động (và thú vị nữa, như thể ông không phải nạn nhân mà chỉ là người quan sát) ở bài "Đằng tiên ca" (Bài ca cái roi song): "Có cái roi song to, dài thật là dài/ Da nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ ra/ Người bị tội nằm duỗi, vẻ sợ hãi xanh xám/ Đầu quay nghiêng, mắt lấm lét, như con dê hoảng hốt/ Chân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên... Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp/ Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở/ Lúc ngừng lại như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi/ Hai cái nọc đứng sững, có vẻ vững chắc/ Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang - Dịch nghĩa".

Và cũng bằng sự tự tin ấy, Cao Bá Quát mới có thể "đụng vào cái vẩy ngược của con rồng" như ở một trong bốn bài thơ mà ông gượng đau viết sau khi bị Bộ Lễ tra tấn "cho đến nơi đến chốn". Bài này, sau hai câu mở đầu có vẻ rất "biết điều": "Hồi tư đãi sỹ chủ ân khoan/ Cảm tích vi tư lý vận gian" (Nghĩ lại ơn vua đãi ngộ kẻ sĩ thật là rộng/ Gặp vận khó khăn đâu dám tiếc cái thân nhỏ mọn này), thì hai câu kết lại đầy bóng gió: "Nghĩ hướng bình nhân thoại tâm sự/ Đê thanh trường khủng ngỗ thiên khan" (Muốn đến với mọi người để chuyện trò tâm sự/ Nhưng phải nói khẽ, sợ trái ý trời sẽ bị trời phạt).

Trong mảng thơ tù này, hơn một lần Cao Bá Quát đã khẳng định việc ông sẽ không chết vì cái án văn tự: "Dũng phu na tử hàn mặc trường" (Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự - Đằng tiên ca), "Hàn mặc tri phi ngã tử sở" (Biết rằng bút mực không phải nơi để cho mình chết).

Niềm tin ấy đã được ông chứng thực bằng chính cái kết số phận cuộc đời mình: lúc sống, Cao Bá Quát nổi danh thiên hạ nhờ tài năng văn chương (Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán), nhưng khi chết, ông lại chết như một kẻ "bạn nghịch" của triều đình nhà Nguyễn, một đầu lĩnh của đám "giặc cỏ".

Hậu thế khó có thể phán xét rằng Cao Bá Quát đúng hay sai trong sự lựa chọn ấy. Chỉ chắc chắn một điều: cho đến giữa thế kỷ XIX, với tất cả những điều kiện thực tại của nền quân chủ chuyên chế ở Việt Nam, con đường vươn tới hình ảnh một anh hùng thời loạn của Cao Bá Quát đã trở thành tuyệt lộ!

Dẫu sao chăng nữa, ở chặng giữa của con đường ấy, chặng tù ngục, Cao Bá Quát đã để lại một di sản thi ca đặc sắc. Nếu có thể nói đến một dòng "ngục trung thi" trong thơ Việt Nam (với những tác giả sáng giá như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thủy v.v...), hẳn người ta sẽ phải, trước hết, nhắc tới người tài tử đa cùng Cao Chu Thần - Cao Bá Quát?

Nam Khanh

Khi sắc xuân bắt đầu lan tỏa trên từng con phố, cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam khép lại một năm với nhiều dấu ấn đáng nhớ. Năm 2025 trôi qua trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nhưng cũng là năm Việt Nam ghi tên mình đậm nét hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu, bằng những con số xuất khẩu (XK) kỷ lục và sự trưởng thành rõ rệt của thương hiệu “Made in Vietnam”.

Ngày 20/2, Ban tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 thông báo hoàn trả tiền đã đặt mua vé thắng cảnh từ 00h ngày 20 đến 24h ngày 22/2 qua các hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ban tổ chức cũng thực hiện miễn phí gửi xe ô tô các loại tại các bến xe do Ban tổ chức quản lý.

Sau khi ăn trứng cá rồng - một loại cá cảnh, 13 người ở Thanh Hóa nhập viện với triệu chứng đau bụng, nôn, tiêu chảy nghi ngộ độc. Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ.

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, người dân khắp cả nước nô nức rủ nhau đi lễ. Trong các điểm đến tâm linh trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Phủ Tây Hồ luôn là một trong những nơi thu hút rất đông đảo người dân về dâng hương, làm lễ đầu năm.

Khoảng 4h sáng ngày 20/2, sau 3 giờ tích cực tìm kiếm, Công an xã Tây Yên Tử và Tổ bảo vệ Công ty Dịch vụ Tây Yên Tử đã nhanh chóng tìm kiếm, đưa 4 du khách bị lạc trong rừng khi tham quan Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, thuộc xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh về nơi an toàn.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Chỉ trong 6 ngày (từ ngày 27 Tết đến mùng 3 Tết), qua công tác tuần tra, kiểm soát; lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 717 trường hợp vi phạm, tạm giữ 261 phương tiện. Các trường hợp phần lớn vi phạm liên quan đến các lỗi: nồng độ cồn, tốc độ, chở hàng quá khổ, quá tải và các lỗi tiềm ẩn nguy cơ cao gây TNGT.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文