Người anh hùng được truy điệu sống
Thành quả giải phóng quê hương Đà Nẵng ấy có một phần rất lớn những đóng góp của Ban An ninh quận 3, đơn vị đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 6/11/1978. Và có một con người của đơn vị ấy đã được các đồng chí của mình chọn lựa, để đề nghị lãnh đạo các cấp xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ…
Đã 35 năm trôi qua, kể từ ngày non sông thống nhất. Trong một buổi chiều Đà Nẵng rất đỗi bình yên, tôi lần theo địa chỉ mà Trung tá Thái Mỹ - Đội trưởng Đội thi đua khen thưởng của Phòng Công tác chính trị - Công an TP Đà Nẵng trao cho, để tìm đến nhà ông trong một con hẻm nhỏ nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai.
Vì đã hẹn trước, nên ông ra tận đầu con hẻm để đón tôi. Căn nhà nhỏ, bài trí khá giản đơn là nơi ông đã sống từ rất nhiều năm qua với người bạn đời mà ông bảo là bà còn lập nên nhiều chiến công hơn ông trong những năm kháng chiến, cùng những đứa con ngoan hiền mà ông bà rất đỗi yêu thương…
Nhìn vào cuộc sống bây giờ, nếu ai đó không biết trước đôi chút về ông bà trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc thì cũng chẳng thể nào hình dung được ông từng là nỗi ám ảnh của những kẻ phản bội Tổ quốc để đi làm tay sai cho giặc; các đơn vị quân đội của chế độ Sài Gòn đóng quân trên địa bàn quận 3 Đà Nẵng và cả những đơn vị tình báo của quân lực Hoa Kỳ tham chiến tại miền Trung Việt Nam. Vừa mời tôi uống nước, ông vừa nhớ lại những năm tháng từ tuổi ấu thơ của cuộc đời mình.
![]() |
|
Anh hùng LLVTND Trần Công Dũng. |
Ông sinh năm 1951, ở thôn Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, TP Đà Nẵng, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha, mẹ, hai chị gái và em ruột của ông trong chiến tranh đều là cơ sở của cách mạng.
Ông có ba người anh ruột đều theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên đường nhập ngũ và trở thành bộ đội chủ lực trong chiến tranh. Một người mất vì bệnh tật, hai người còn lại đều đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ và đều được công nhận là liệt sĩ.
Năm 1966, khi vừa tròn 15 tuổi, ông đã đi theo truyền thống gia đình, tiếp bước cha anh để tham gia phong trào cách mạng ở địa phương. Lúc đầu ông nhận nhiệm vụ làm giao liên cho đồng chí Nguyễn Hữu Thông (bí danh Nì) công tác ở Đặc khu ủy Quảng Đà, Bí thư Quận ủy quận 3 - Đà Nẵng. Sau hai năm hoạt động giao liên, đến ngày 14-4-1968, ông trở thành đội viên Đội Trinh sát an ninh vũ trang - Ban An ninh quận 3, trực thuộc Ban An ninh Quảng Đà.
Ông kể rằng, ngày ấy, nơi ông hoạt động là vùng căn cứ lõm K20 (gồm Đa Phước, Mỹ Thị, Nước Mặn, ấp Bà Đa). Đây là vùng đất một bên giáp với sông Hàn, một bên giáp tỉnh lộ Đà Nẵng - Hội An, sát sân bay Nước Mặn lớn nhất miền Trung là đầu não quân sự, chính trị của Mỹ - ngụy ở Đà Nẵng.
Phía
Thời gian này, địch ra sức xây dựng và củng cố ở các xã Hòa Long, Hòa Phụng và Hòa Hải luôn luôn có một trung đội nhân dân tự vệ để phối hợp với cảnh sát, mật vụ thường xuyên khủng bố đàn áp sự trỗi dậy của phong trào cách mạng ở địa phương.
Trước tình hình đó, lãnh đạo Ban An ninh Quảng Đà và Ban An ninh quận 3 xác định nếu lực lượng cách mạng muốn sống còn và hoạt động được thì phải bằng mọi cách xây dựng thế trận lòng dân, làm trong sạch nội bộ quần chúng, xây dựng mạng lưới cơ sở cách mạng và có thêm thật nhiều hầm bí mật trong lòng địch.
![]() |
|
Anh hùng LLVTND Trần Công Dũng (đứng giữa) cùng đồng chí Đặng Văn Khá và các đồng chí trong Ban An ninh quận 3 về thăm lại căn cứ lõm K20. |
Ông đã cùng với những đồng đội của mình tổ chức nắm bắt tình hình, âm mưu, thủ đoạn của địch ở địa phương một cách nhanh nhất. Để từ đó, tổ chức chỉ đạo lực lượng an ninh vũ trang diệt ác phá kìm, phát động phong trào quần chúng xây dựng và bảo vệ căn cứ lõm K20, để đưa những đồng chí trong ban lãnh đạo Quận ủy quận 3 vào đứng trực tiếp chỉ đạo phong trào…
Chỉ trong thời gian ngắn, ông đã xây dựng được 38 cơ sở, trong đó có 28 cơ sở vũ trang chiến đấu, 10 cơ sở nuôi giấu cán bộ. Đặc biệt là những cơ sở như: Chủ tịch Hội đồng xã Hòa Long - Nguyễn Chê; 2 ấp trưởng Huỳnh Vấn và Hồ Như; Trung đội trưởng Nhân dân tự vệ Nguyễn Hạnh; Thư ký Hội đồng nhân dân xã Hòa Long - Trần Khoa Thoại; Thượng sỹ Biệt động quân Võ Nghiêm; Thượng sỹ lái xe Huỳnh Cây…
Nhắc lại chuyện này, ông cứ mãi tấm tắc: Có thể khẳng định rằng, ở vùng căn cứ lõm K20, nhân dân thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho cách mạng, có những hầm bí mật nhiều người dân biết nhưng vẫn đảm bảo, an toàn. Ở K20, tất cả từ chi bộ, các đoàn thể cách mạng, đến lực lượng an ninh vũ trang đều được xây dựng, củng cố phát triển trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
Kể cả những năm tháng khó khăn nhất, nhưng những đường dây liên lạc giữa vùng căn cứ lõm này với chiến khu vẫn không hề bị gián đoạn hoặc rơi vào tình trạng trắng cơ sở như một số địa phương khác. Ông khẳng định, chính đấy là cơ sở tốt nhất đảm bảo cho Ban An ninh quận 3 được hoạt động an toàn và mang lại hết chiến công này đến chiến công khác.
Ai cũng biết, trong chiến tranh, Đà Nẵng là một trong hai căn cứ quân sự liên hợp hải lục không quân lớn nhất của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt
Để đối phó với các phong trào cách mạng ở Đà Nẵng, Mỹ - ngụy còn sử dụng đội quân chư hầu, lực lượng tình báo, cảnh sát đặc biệt, mật vụ và hệ thống chính quyền tay sai, lực lượng bình định nông thôn và nhân dân tự vệ để mạnh tay đàn áp với rất nhiều thủ đoạn như chiến tranh cục bộ, chiến tranh tâm lý, bình định nông thôn…
Đặc biệt là sau Tết Mậu Thân (1968), địch tấn công rất quyết liệt vào các cơ sở bí mật và công khai của ta trên phạm vi rộng. Đặc biệt, tại căn cứ lõm K20, địch đã mở rất nhiều đợt càn quét, bắt, giết nhiều cán bộ, cơ sở của ta, số còn lại mất liên lạc hoặc phải lánh sang địa bàn khác để nằm chờ cơ hội. Tổ chức an ninh quận 3, quận đội, tổ chức quận ủy cũng đã nhiều phen bị đánh dạt ra khỏi địa bàn…
Không thể để cho địch được đà lấn tới, dù tình hình có nan giải đến đâu thì Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà cũng quyết tâm giao nhiệm vụ cho Quận ủy quận 3 và Ban An ninh quận 3 (lúc này đồng chí Đặng Văn Khá - Thường vụ Quận ủy quận 3 là Trưởng ban An ninh quận 3) chịu trách nhiệm nối lại liên lạc với những cơ sở của ta còn lại ở K20.
Từ đó, nắm tình hình tổ chức, xây dựng mạng lưới cơ sở an ninh nhân dân, phục vụ công tác xây dựng phong trào quần chúng, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, diệt ác phá kìm, xử lý bọn gián điệp, tình báo, chỉ điểm của địch cài lại; khôi phục bằng được thế chủ động của ta ở vùng căn cứ lõm K20, tạo điều kiện tốt nhất để đưa tổ chức Quận ủy và các cơ quan, đoàn thể khác vào trực tiếp đứng chân ở K20.
Năm 1970, lúc này ông là Đội phó Đội Trinh sát an ninh quận 3, nhận nhiệm vụ cùng Đội trưởng Nguyễn Sáo và Trưởng ban An ninh quận 3 Đặng Văn Khá trở lại căn cứ lõm K20. Từ vùng căn cứ Hòa Hải, ông đã sử dụng các mối quan hệ nhân thân để móc nối với hai đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Với những tài liệu do các đồng chí Được và Hạnh cung cấp, ông đã cùng những đồng chí của mình phân tích tình hình và lên kế hoạch đột nhập vào K20. Tháng 10/1970, khi thời cơ đã chín muồi, ông quyết định báo cáo lãnh đạo và cùng với Trưởng ban An ninh quận 3 Đặng Văn Khá xâm nhập trở lại K20.
Lúc đầu, do chưa bố trí được hầm bí mật nên nhiều tháng liền ông và đồng đội phải ở ngoài đồng nước, lúc nào thấy bóng dáng địch thì lặn xuống nước đội bèo để ngụy trang, có những lúc liên tiếp rất nhiều ngày ông và đồng đội phải ngâm mình dưới nước để tránh càn và tránh tai mắt của địch. Cứ thế, ngày ở đồng nước, đêm lại bò lên bờ để gặp gỡ cơ sở của ta.
Qua đó, ông đã vận động những cơ sở này đào hầm bí mật để làm nơi ẩn náu, bằng mọi cách phải vào ở hẳn trong dân để hoạt động. Khi đã vào được trong dân, ông tiếp tục móc nối với những cơ sở của Đội Trinh sát an ninh quận 3 để nắm tình hình. Từ đó, ông đã phát hiện ra nhiều mật báo viên làm việc cho địch…
Sau hai năm bám trụ trong lòng căn cứ lõm K20, ông đã cùng đồng đội của mình móc nối lại hầu hết những cơ sở cũ, xây dựng và phát triển thêm nhiều cơ sở mới, đào thêm nhiều hầm bí mật. Thời điểm này, tổ chức chính quyền của ngụy có nơi do ta nắm hoàn toàn như ở ấp Đa Phước, ấp Đa Mặn; có nơi ta nắm được một phần quan trọng như ở Mỹ Đa, Mỹ Thị…
Lực lượng vũ trang của ngụy ở K20 có trung đội nhân dân tự vệ, ta cũng chi phối được dưới sự điều hành, chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Hạnh. Đến đầu năm 1971, cơ bản ta đã làm chủ được K20, đảm bảo điều kiện tốt nhất để nhiều đồng chí lãnh đạo có mặt tại vùng căn cứ lõm này chỉ đạo phong trào theo yêu cầu mới của cách mạng.
Tháng 2/1971, đồng chí Đặng Hồng Vân - Bí thư Quận ủy quận 3; đồng chí Đặng Văn Khá - Trưởng ban An ninh quận 3; đồng chí Trần Chanh - Ủy viên Quận ủy đã về trực tiếp K20 để chỉ đạo phong trào. Ông bảo rằng, lúc đó đưa được các đồng chí ấy vào trực tiếp chỉ đạo phong trào là một thành công rất lớn, rất quan trọng của Ban An ninh quận 3, trực tiếp là Đội Trinh sát an ninh vũ trang quận 3 mà trong đó có ông là người thực hiện…
Xác định rằng nếu để mất K20 là ta sẽ mất 1/3 mặt trận quan trọng tấn công vào TP Đà Nẵng. Ông được giao nhiệm vụ thường xuyên liên lạc với các cơ sở Đảng, tổ chức an ninh để phát hiện phá vỡ những mạng lưới mật báo viên của địch. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông đã nắm được hồ sơ của 4 đối tượng thuộc loại nguy hiểm, trong đó có một đối tượng nguyên là cơ sở bí mật của ta, bị địch mua chuộc làm mật báo viên cho chúng.
Một đối tượng là chỉ điểm đã giúp địch phục kích giết đồng chí Trần Chanh và một đối tượng khác cũng là mật báo viên. Trong số 4 đối tượng này, nguy hiểm nhất là đối tượng tên Cụt làm mật báo viên cho lực lượng cảnh sát đặc biệt F62 của ngụy. Qua theo dõi, ông biết được tên Cụt hằng ngày cải dạng đi ăn xin lê lết từ K20 sang Đà Nẵng. Nhưng khi sang Đà Nẵng thì lại đi vào trong trung tâm của F62…
Đêm 26/6/1971, khoảng 20h, ông nhận được tín hiệu của cơ sở báo rằng các đối tượng đều đã được giám sát, lực lượng của địch không có mặt ở địa điểm hành động. Ngay lập tức ông hóa trang thành một viên trung úy biệt động quân ngụy đột nhập vào ấp Đa Mặn và đi thẳng đến nhà tên Cụt. Bước vào nhà, ông lớn tiếng gọi: "Có Cụt ở nhà không?".
Từ nhà trong, tên Cụt trả lời: "Có việc gì mà trung úy đến nhà khuya vậy?". Nhanh như cắt, ông hô lớn: "Nhân danh cách mạng, tuyên án tử hình kẻ phản bội Tổ quốc…", vừa lúc này có tiếng máy bay cất cánh ở sân bay Nước Mặn, ông rút súng bắn liền hai phát vào ngực tên Cụt, kết liễu số phận của kẻ làm tay sai cho địch. Diệt tên Cụt xong, ông nhanh chóng đến nhà của đối tượng nguyên là cơ sở của ta nhưng bị dụ dỗ làm mật báo viên cho địch ở ấp Mỹ Đa. Rút súng cầm tay và gọi đích danh tên của đối tượng này, tên mật báo viên bước ra, ông nổ súng ở cự ly rất gần, kẻ phản bội gục xuống.
Ông hô lớn: "Nhân danh lực lượng cách mạng diệt ác trừ gian, ai chống cự sẽ chung số phận với kẻ phản bội" để phủ đầu gia đình đối tượng này đang nhốn nháo. Lúc này, kim đồng hồ trên tay chỉ 21h30’, ông quay ra ngoài đường để gặp cơ sở.
Biết tình hình vẫn ổn, địch chưa hay biết gì, nên ông quyết định thực hiện tiếp kế hoạch bắt sống hai đối tượng còn lại. Nhiệm vụ này được ông thực hiện rất nhanh, khống chế 2 đối tượng bịt mắt đưa ra xe Jeep do cơ sở của ta là Thượng sỹ Huỳnh Cây lái chở thẳng về căn cứ ở Hòa Hải. Qua khai thác, hai đối tượng này đã cúi đầu nhận tội và khai báo thêm hai mật báo viên khác của địch ở K20.
Ông bảo rằng, vụ xử lý 4 đối tượng này diễn ra chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ, địch bị bất ngờ nên không phản ứng kịp, với lại hành động ở 3 vị trí khác nhau, lực lượng nhân dân tự vệ thường hay tuần tra đã bị cơ sở của ta khống chế, nên mang lại kết quả tốt hơn dự tính.
Thời gian này, ở căn cứ Hòa Hải nổi lên đối tượng Nguyễn Thị Chát là đối tượng chỉ điểm vô cùng nguy hiểm. Chát nguyên là Xã đội phó, kiêm Trung đội trưởng du kích xã Hòa Hải. Chát bị địch bắt năm 1970, không chịu nổi những đòn tra tấn nên đã đầu hàng theo địch.
Là người thông tỏ địa bàn hoạt động, nên thị Chát đã chỉ điểm để cho địch bắt giữ 32 cán bộ cơ sở của ta. Thị dẫn đường cho địch phục kích giết 12 cán bộ khác, trong đó có những cán bộ cốt cán như đồng chí Mai Sớm - Bí thư Khu ủy khu 3 Hòa Vang; đồng chí Thương - Huyện ủy viên huyện Hòa Vang. Để ngăn chặn tội ác tày trời của Chát, Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban An ninh Quảng Đà Hoàng Văn Lai đã chỉ thị cho Thường vụ Quận ủy quận 3 phải nghiên cứu để tiêu diệt bằng được đối tượng này.
Nhận được chỉ thị diệt trừ Nguyễn Thị Chát, ông đề xuất lên lãnh đạo phương án là ông sẽ ám sát Chát ngay trong căn cứ địch. Ông xác định đây là một phương án táo bạo, bất ngờ nhưng vô cùng nguy hiểm. Nhưng với quyết tâm của một con người dành trọn đời mình cho cách mạng, ông đã thuyết phục được các đồng chí lãnh đạo và rồi phương án ấy đã được chuẩn y.
Vào một đêm trung tuần tháng 7/1971, trong một hang núi gần căn cứ lõm K20, lãnh đạo và đồng đội của ông ở Ban An ninh quận 3 đã long trọng làm lễ truy điệu cho ông trước khi ông xuất kích để thực thi nhiệm vụ. Đêm ấy, đồng chí Đặng Văn Khá cứ nằm bên ông để chuyện trò và dặn dò, còn ông vẫn rất lạc quan với nhiệm vụ sắp đến của mình.
8h sáng hôm sau, ông trang bị trong người 5 quả lựu đạn mini, một khẩu súng ngắn, rồi theo chân cơ sở hóa trang thành một thanh niên đi lượm rác trong bãi rác của Mỹ. Ông hòa vào dòng người đi lượm rác, nhưng mắt luôn dõi theo tín hiệu từ cơ sở của ta. Phải mất hơn 2 giờ đồng hồ sau khi tiếp cận đối tượng, ông mới có điều kiện hành động.
Cơ sở cho biết, Chát vừa ăn bún xong, đang ngồi uống nước ở cạnh một thùng đựng nước rất lớn. Ông nhanh chân vòng lại phía sau lưng, rồi tiến gần đến bên thị Chát. Ông chủ động gọi: "Chị Chát, chị đi đâu đấy?". Nghe gọi đúng tên mình, Chát quay lại hỏi ông: "Anh ở đâu mà biết tui?".
Liền sau đó, ông rút súng bắn liên tiếp 3 phát vào đầu Chát, rồi hô lớn: "Lực lượng cách mạng trừng trị kẻ phản bội, ai chống cự sẽ bị tiêu diệt". Nghe tiếng súng nổ và sau tiếng hô đanh thép của ông, dân chúng xung quanh nhốn nháo, bọn lính hoảng loạn náu thân. Lợi dụng thời khắc ấy, ông đã nhanh chân rút lui bằng con đường đã đột nhập để hòa vào dòng người tháo chạy về hướng xã Hòa Quý.
Ngay sau khi hoàn hồn, địch tập trung quân để bao vây kín nơi vừa xảy ra ám sát, ông thì bình yên trở về trong niềm vui của những người đồng đội. Thành công của trận đánh này đã làm cho bọn ngụy, mật báo viên rúng động tinh thần. Đích thân đồng chí Hoàng Văn Lai đã gặp ông chúc mừng và trao tặng ông khẩu súng K59 để ông luôn giữ bên mình như một lời động viên, nhắc nhở của người chỉ huy cao nhất.
Sau khi Hiệp định
Bên ngoài đơn vị này có quân cảnh canh gác 24/24 hết sức nghiêm ngặt. Biết được sự quan trọng của lực lượng này đối với chiến cuộc, cấp trên đã chỉ đạo lực lượng An ninh quận 3 phải xóa sổ đơn vị này. Lúc này, với cương vị là Đội trưởng Trinh sát an ninh vũ trang quận, ông được giao nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng kế hoạch chiến đấu…--PageBreak--
Sau một thời gian điều nghiên, ông đã tuyển chọn và xây dựng được 2 cơ sở là nữ công nhân chuyên dọn dẹp vệ sinh cho bọn Mỹ trong đơn vị 25-MP là cô Sáu và cô Huệ. Theo báo cáo của 2 cơ sở này, ông đã vẽ hoàn thiện sơ đồ của đơn vị lính Mỹ này, nắm được số lượng địch và quy luật hoạt động của chúng.
Để xem xét khả năng vận chuyển chất nổ vào bên trong đơn vị thám báo Mỹ, ông đã đề xuất cơ sở thử mang một vài đồng tiền nhôm theo người mỗi khi đến làm việc. Tuy nhiên, sự thông minh của những phương tiện rà tìm kim loại được đặt ngay cổng ra vào đã phát hiện ra những đồng tiền xu bé xíu ấy. Lần sau, ông dặn cơ sở bỏ những đồng tiền nhôm vào trong ruột những gói xôi, rồi dùng lá chuối gói kỹ lại để mang vào…
Rất may, cơ sở báo tin về là máy rà kim loại không phát hiện được. Từ đó, ông bắt đầu đề xuất cách đánh và được cấp trên xem xét chấp thuận. Hằng ngày ông giao nhiệm vụ cho 2 cơ sở sáng nào cũng mua xôi như kiểu mang vào để ăn sáng… và cứ thế, mỗi ngày một ít chất nổ TNT được 2 cơ sở này mang trót lọt vào trong đơn vị thám báo Mỹ, rồi được cất giấu cẩn thận trong kho chứa bia và nước ngọt của đơn vị này.
Một tháng trôi qua, ông kiểm tra 2 cơ sở và biết được có 8kg thuốc nổ TNT đã nằm gọn trong sào huyệt địch. Một hôm, cơ sở báo tin rằng đơn vị này giảm bớt một nửa số người Việt làm việc tại đây, trong đó có 1 cơ sở của ta. Nhân cơ hội này, một mặt ông cử người đi mua vé máy bay cho cơ sở bị thôi việc của ta, đồng thời thông báo với cơ sở còn lại bằng mọi cách thông báo cho những lính Mỹ trong đơn vị biết là cơ sở kia sẽ đi Sài Gòn để xin việc làm mới.
Thời điểm bố trí là vào cuối tuần, lúc mà hầu hết những sĩ quan tình báo người Mỹ đều tập trung về đơn vị để ăn nhậu xả hơi. Đúng như dự báo của ông, khi nghe cô Huệ sẽ đi Sài Gòn tìm việc làm mới, chúng đồng ý ngay lời đề nghị của cô Sáu là mời cô Huệ vào liên hoan cùng đơn vị trước lúc lên đường.
Khoảng 11h trưa, khi tất cả bọn Mỹ đang say sưa nhảy múa, cũng là lúc cô Huệ xin phép về nhà để chuẩn bị bay vào Sài Gòn trên chuyến bay 14h30’. Viên sỹ quan Mỹ đồng ý. Huệ giả vờ vào phòng vệ sinh rửa mặt rồi bấm kíp hẹn giờ khối thuốc nổ đã chuẩn bị sẵn.
Khi chiếc xe Jeep của tên lĩnh Mỹ da đen đưa cô Huệ về nhà vừa quay lại đến cổng đơn vị thì một tiếng nổ kinh hoàng vang lên. Toàn bộ tòa nhà đơn vị tình báo Mỹ bay tứ tán, 13 tên Mỹ có mặt trong đơn vị đều chết tại chỗ, 2 tên ở bên ngoài bị thương… sự kiện này đã làm cho cả quân Mỹ lẫn lính ngụy Sài Gòn đều hoang mang kinh khiếp.
Tiếp đó, Ban An ninh quận 3 nhận được báo cáo của Đội Trinh sát vũ trang quận 3 phát hiện tại khu Thiên Chúa giáo ở An Cư 3, trong khu cư xá sĩ quan ngụy có một nhân vật tên là Hồ Diệp. Diệp thường đi làm bằng xe Jeep có lính hộ tống. Cuối tuần thường có rất nhiều sĩ quan Mỹ đến nhà để cùng đi lễ nhà thờ và vui chơi.
Ban An ninh quận 3 đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Mai Thị Luận - Phó ban An ninh trực tiếp chỉ huy Đội Trinh sát tiếp cận, để làm rõ nhân thân của Diệp và quy luật đi lại, làm việc của y. Trinh sát viên Hồ Thị Phương được bố trí về cư ngụ tại nhà của người bà con ở đối diện nhà của Diệp.
Sau một quá trình dài theo dõi, Ban An ninh quận 3 khẳng định Hồ Diệp là đại tá tình báo, chỉ huy trực tiếp toàn bộ hệ thống mật báo viên của địch ở Vùng I chiến thuật. Vì vậy, tiêu diệt được Diệp sẽ gây tiếng vang lớn và chắc chắn địch sẽ rối loạn, hoang mang. Ngay sau đó, phương án tác chiến được Ban An ninh Quảng Đà chấp thuận.
Một tổ tác chiến 4 người do đồng chí Luận chỉ huy được hình thành. Đồng chí Phương được tổ chức điều động ra vùng ta kiểm soát trong khoảng thời gian 10 ngày để ông huấn luyện cách đặt chất nổ trên xe Jeep. Kế hoạch hành động là đồng chí Luận đứng cách điểm Phương đặt mìn 5 nhà để đề phòng bị lộ sẽ đưa Phương ra căn cứ ngay.
Đồng thời cản bước tiến của địch để giúp Phương thoát ra ngoài khi có bất trắc. Ông được phân công nhiệm vụ bám theo xe của đối tượng để nổ súng tiêu diệt khi có sự cố, hoặc địch phát hiện khi mìn chưa nổ hay không nổ. Đồng chí Mười có nhiệm vụ cảnh giới để báo cho đồng chí Luận biết nếu ông hy sinh trên đường làm nhiệm vụ…
Lợi dụng sự quen biết với gia đình đối tượng, Phương vờ chơi bi với mấy đứa nhỏ trong nhà, đặt mìn vào gầm ghế chiếc xe Jeep của Diệp, rồi bấm kíp hẹn giờ trước lúc Diệp lên xe đi làm. Khi xe chạy đến gần chợ Cồn thì mìn phát nổ, Diệp và 4 tên lính khác chết ngay bên vệ đường…
Sau cái chết của Diệp, địch nghi ngờ nên đã triệu tập Phương lên để thẩm vấn, nhưng không tìm ra chứng cứ nên buộc phải trả tự do. Ta thấy tình hình như vậy nên bố trí cho Phương ra vùng căn cứ. Một lần đang thực thi nhiệm vụ, Phương bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh…
Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, ông được tổ chức giao nhiệm vụ làm Phó chủ tịch Ủy ban quân quản phường Nại Hiên Đông - Đà Nẵng. Tháng 9/1975, ông được điều về làm Đội phó Đội Bảo vệ chính trị thuộc Công an quận 3 - Đà Nẵng. Đến tháng 3/1978, ông làm Đội trưởng Đội Chống vượt biển, thuộc Công an TP Đà Nẵng.
Tháng 2/1980, Tổ chức tăng cường ông đến công tác tại Trại cải tạo lao động K80 ở Phước Sơn (Quảng Nam) đến tháng 2/1984, rút ông về công tác tại Trại Phú Túc cho đến tháng 6/1985, ông chuyển về công tác tại Phòng Bảo vệ chính trị 4 - Công an Đà Nẵng.
Từ trong chiến tranh cho đến những năm tháng hòa bình, dù ở vị trí công tác nào ông cũng luôn là người tiên phong, tận tụy cống hiến tâm lực của mình cho công việc. Bao giờ ông cũng bảo rằng dù có khó khăn vất vả nhưng dẫu sao ông vẫn còn may mắn hơn rất nhiều những người đồng chí, đồng đội đã hy sinh trong chiến đấu.
Và ông cũng không thể nào nguôi quên những đóng góp của các cơ sở cách mạng trong những năm tháng chiến tranh, không bao giờ quên sự đùm bọc, hy sinh của quần chúng nhân dân ở vùng căn cứ lõm K20 và các xã Bắc Mỹ An, Hòa Hải, Hòa Long, Hòa Phụng… cùng với một phần rất quan trọng là truyền thống cách mạng của gia đình.
Ngày 5/1/2008, ông nhận quyết định nghỉ hưu theo chế độ với cấp hàm Thượng tá, ông trở về địa phương sống chan hòa với bà con lối xóm trong tư cách của một công dân mẫu mực. Ông tên là Trần Công Dũng, người con ưu tú của thôn Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Suốt cuộc đời ông luôn là một con người mưu trí, dũng cảm, hy sinh quên mình, luôn xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc…
Với những gì ông đã cống hiến cho quê hương và Tổ quốc, ông đã lần lượt nhận được: 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba; 1 Huân chương Chiến công hạng nhất; 1 Huân chương Quyết thắng hạng nhất. Ngày 8/1/2009, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Mới đây, nhân dịp tổ chức Đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, ông lại vinh dự có tên trong đoàn 1.000 Anh hùng LLVTND hành hương xuyên Việt để về dự lễ giữa Thủ đô nghìn năm văn hiến

