Nguyễn Quang Sáng – Nhà văn chịu chơi
Hai mươi mấy năm trước, lần đầu tiên đến Sài Gòn, tôi hỏi một người bạn viết văn: “Ông Nguyễn Quang Sáng là người thế nào?”. Đáp: “Ổng chịu chơi và chơi được”. Chịu chơi là chẳng ngán cái gì, kể cả công việc. Theo cách nói của Cụ Mác, có thể hiểu là tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ với người chịu chơi. Chơi được thì ai cũng hiểu, chẳng cần bàn.
Đến nay, mấy nhà văn ở Hà Nội vẫn còn nửa đùa nửa thật hỏi tôi về cái “vụ” đi bia ôm với ông Sáng ở Khâm Thiên lần đó, khiến tôi cũng muốn nhân đây nói rõ thêm về chuyện này. Trong dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam, cũng chẳng nhớ là lần thứ mấy, vào khoảng 1995, 1996 gì đó, một buổi tối, tôi đang tiếp chuyện mấy người bạn cùng ở trong Nhà khách Hùng Vương, chợt nhà văn Nguyễn Quang Sáng đến. Vừa vào cửa ông đã nói: “Buồn quá, tao với mầy đi chơi”. Hỏi đi đâu, ông đáp tỉnh queo: “Bia ôm”.
Là Tổng thư ký Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, lại là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn cả nước, ông nói cái chuyện đi bia ôm một cách tự nhiên, chẳng e dè gì. Cứ như nhiều vị quan chức mà tôi biết, lúc nào cũng lo “quan trên ngó xuống người ta trông vào”, có rủ nhau đi bia ôm bia ấp cũng chỉ thầm thầm thì thì, đi lén đi lút; chẳng ai như ông Sáng, nói oang oang giữa chốn đông người.
Dạo đó, tôi cho rằng mình còn trẻ, cái chuyện bia bọt ôm ấp chút đỉnh cũng chẳng chết ai. Ngày xưa, các bậc danh sĩ danh nho như cụ Nguyễn Công Trứ, cụ Tản Đà, cụ Ngô Tất Tố, cụ Nguyễn Tuân, và có thể cả “cụ” Vũ Trọng Phụng nữa, nào có lạ gì cái thú tiêu khiển vừa uống rượu (ngày ấy chưa sẵn bia) vừa nghe mấy cô đào non ngồi kề hát ả đào, hát cô đầu (nay gọi là ca trù).
Cũng nhờ một lần mất ô khi đi cô đầu mà cụ Tú Xương viết được bài lục bát cực hay “Mất ô”, có những câu: “Hỏi ô, ô mất bao giờ/ Hỏi em em cứ ỡm ờ không thưa/ Chỉn e rày gió, mai mưa/ Lấy gì đi sớm về trưa với tình”. Bởi vậy mà tôi nghĩ giá có mất xe máy, nhờ vậy mà viết được bài thơ “Mất xe” chỉ cần hay bằng một góc “Mất ô” của cụ Tú, tôi cũng hả.
Phải nói ngay rằng cuộc bia ôm hôm ấy làm tôi thất vọng. Chọn được một quán ưng ý ở Khâm Thiên, vừa dựng xe đã thấy hai cô gái từ trong xông ra tận cửa: “Chúng em mời hai anh vào”. Ông Sáng nói liền: “Chỉ có một anh thôi, tao là… ba”. Hai cô bảo lên gác, ông phảy tay: “Khỏi, ngồi dưới này”. “Em tắt bớt đèn cho đỡ… chói mắt”. Nhà văn lại thủng thẳng: “Cứ để cho sáng”. Trời ạ, đi bia ôm là đi “thư giãn”, đã ngồi ngay ở quầy lễ tân, lại để đèn sáng, thì uống bia ở Nhà khách Hùng Vương, chứ đến đây làm gì.
Biết phận, tôi nháy cô sắc nước hơn sang ngồi với ông ở phía bên kia bàn, nhận cho mình cô tiếp viên coi bộ “già” hơn. Phía bên kia bàn “ba ba con con”, thành ra dù có “anh anh em em” ở bên này bàn, cũng chẳng tự nhiên chút nào. Mất cả thú. Ông toàn hỏi chuyện thời tiết, thời sự, giá cá gia rau ở Hà Nội. Thì ra cụ này đi bia ôm là để… lấy thực tế cho một truyện nào đó đang viết.
Ngồi hơn tiếng đồng hồ - khoảng thời gian dài cho một bài diễn văn ở đại hội nhưng lại quá ngắn với một cuộc bia ôm, ông ra hiệu tính tiền rồi bảo tôi: “Tao chịu tiền chợ và boa con gái tao, mầy boa cho… bà xã mầy”.
Sẵn tiền lớn trong túi, ông thanh toán tiền bia, đồ ăn và boa cho “con gái” tờ năm chục ngàn. Ở Hà Nội thời điểm đó, giá này cao gấp hai lần giá “chuẩn”. Tôi bấm bụng noi theo đàn anh, cũng đành hậm hực dúi vào tay “bà xã” bốn tờ mười ngàn, hai tờ năm ngàn. Thời gian còn lại ở Đại hội Nhà văn, nhiều người nhìn ông Sáng, nhìn tôi với ánh mắt rất… đáng ngờ. Cỡ như ông Nguyễn Quang Sáng mà còn “mo phú”, thì tôi, là cái đinh gì mà phải bận lòng.
Con người ta, nếu có tham vọng về quyền chức, cũng là chuyện thường tình. Ở lĩnh vực khác, Nguyễn Quang Sáng có vọng có tham không, tôi chưa nghe ai nói. Đại hội Nhà văn Việt
Tôi chợt cười một mình, nghĩ: cụ mà ra Hà Nội làm lớn, chẳng biết rồi sẽ ăn mặc ra sao mỗi khi chủ trì những buổi họp to, lễ trọng, những khi gặp lãnh đạo cấp cao. Mấy chục năm, kể cả những lần gặp ông ra Hà Nội vào mùa đông, chưa thấy ông mặc “đồ lớn” (complê) bao giờ. Thắt cà vạt, ông kêu vướng cổ.
Tôi lại hỏi: “Nhiều người bảo anh ngang, là văn nghệ sĩ duy nhất vào
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng được nhiều anh chị em viết trẻ ở phía
Để viết một tác phẩm thành công, Nguyễn Quang Sáng cho rằng phải có ba yếu tố: chủ đề, bố cục và chi tiết. Nghe ông nói vậy, tôi chợt nhớ hình như có lần Sếcxpia cũng đã từng lý giải thành công của mình là do biết sắp xếp đúng trật tự bảng ký tự Latinh. Chủ đề, chẳng cứ ở xứ ta, mà trên cả hành tinh này, quẩn quanh cũng chỉ trên mấy đốt ngón tay: chiến tranh và hòa bình, lao động sản xuất, yêu và ghét, cao thượng hay thấp hèn… Hiểu nhiều về chủ đề nào cứ viết về chủ đề đó, không am tường thì tránh né, đó là quyền của người viết ở mọi thời. Trong các sáng tác của Nguyễn Quang Sáng, yếu tố về bố cục và chi tiết xem ra được ông chú ý nhiều hơn.--PageBreak--
Theo Nguyễn Quang Sáng thì dường như chưa bao giờ ông mơ tưởng thành nhà văn. Ông đến với nghiệp văn chỉ là ngẫu nhiên. Ông viết văn không phải vì ảnh hưởng từ Lê Vĩnh Hòa, người bộc lộ năng khiếu văn chương từ khi ngồi cùng bàn ở Trường trung học Kháng chiến Nguyễn Văn Tố (như ai đó từng viết), mà do tác động trực tiếp từ cô Tư, một tín đồ Hòa Hảo chán đời tu hành trên núi, một phụ nữ đã có gan rút kiếm chống lại voi điên.
Từ những chuyện đời do người nữ tu này kể, kết hợp với sự sống dậy của ký ức về một làng quê theo đạo Hòa Hảo, trong ông lập tức hình thành một cốt truyện dài. Nguyễn Quang Sáng hì hục viết được ba trăm trang. Đây là tiểu thuyết đầu tay, viết lại nhiều lần, đến năm 1962 mới in thành tiểu thuyết “Đất lửa”, trở thành tiểu thuyết được đánh giá cao nhất trong “chùm” tiểu thuyết ông đã viết: “Đất lửa”, “Nhật ký người ở lại”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu”…
Tác phẩm đầu đời là tiểu thuyết nhưng ấn phẩm trình làng của ông lại là tập truyện ngắn “Con chim vàng” in năm 1957. Ngay từ truyện ngắn này, nhiều người đã dè dặt nhận định: Nguyễn Quang Sáng là người của truyện ngắn. “Con chim vàng” được dịch ra tiếng Pháp, là nguồn động viên để ông viết một loạt truyện ngắn khác, in thành tập “Người quê hương” năm 1958.
Theo Nguyễn Quang Sáng thì một bản thảo có chủ đề, chi tiết tốt, nếu bố cục dở, biên tập viên ở báo, nhà xuất bản có thể giúp, cũng đỡ được phần nào, nếu chưa muốn nói là có thể thay đổi hẳn diện mạo tác phẩm. Nhưng bố cục giỏi mấy mà chi tiết nghèo nàn, nhàm cũ thì chỉ có cách chính tác giả viết lại, hoặc bỏ đi viết truyện khác. Theo ông, văn học là tổng hợp của chi tiết. Trong đời sống chi tiết tự nó nảy sinh, không ai có thể sáng tác được. Nhà văn phải nắm bắt các chi tiết để làm một trong những cái vốn của văn học.
Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Quang Sáng có những chi tiết sống mà chỉ những nhà văn trong cuộc mới phát hiện ra: đi tắm sông không được để nước rợn sóng, chú gà trống ngứa cổ mà không được phép gáy. Chi tiết “độc” điển hình được thể hiện trong phim “Cánh đồng hoang”: Mỗi lần máy bay địch nhào xuống bắn, bao ni lông trong có đứa trẻ lại được nhấn chìm xuống nước để tránh đạn.
Về nghệ thuật sử dụng chi tiết, có lẽ phải nói tới cảnh kết của phim “Cánh đồng hoang”: người mẹ trẻ Việt Nam ôm đứa con nhỏ, không nhìn chiếc máy bay đang bốc cháy, cũng không nhìn xác tên phi công Mỹ vừa giết chồng mình, mà nhìn chăm chú vào tấm ảnh rơi ra từ túi ngực xác tên phi công Mỹ, chụp vợ và đứa con nhỏ của hắn, rồi hướng cái nhìn về phía chân trời. Hai người đàn ông, chính tà gì không bàn nữa, đều chết rồi nằm gần đó, nhưng với hai người phụ nữ mất chồng, hai đứa trẻ mất cha, còn tách bạch làm gì nữa, khi chiến tranh đã đẩy họ vào cùng cảnh ngộ.
Chi tiết “đắt” là vậy nhưng có lần tôi nghe đạo diễn Hồng Sến bảo: một quan chức nói để vậy không được. Theo vị này thì phải kết thúc phim với cảnh người mẹ trẻ địu con trước ngực, dáng vươn cao đi giữa trùng điệp những đoàn quân giải phóng đang xông lên bắt quân thù phải đền nợ máu; hậu cảnh là đồn bốt, sân bay giặc ngùn ngụt bốc cháy trong lửa đạn. May mà cả ông Sáng và ông Sến đều không chịu.
Từ những truyện ngắn “Con chim vàng” (1957), “Chiếc lược ngà” (1968), “Bông cẩm thạch” (1969), “Người con đi xa” (1977), “Bàn thờ tổ của một cô đào” (1985),… những truyện vừa, tiểu thuyết như “Đất lửa”, “Nhật ký người ở lại” (1962), “Cái áo thằng hình rơm”, “Mùa gió chướng” (1975), “Dòng sông thơ ấu” (1985)… đến những kịch bản phim truyện, trong cả ba mảng ấy, Nguyễn Quang Sáng đã để lại dấu ấn của mình: Từ trang viết của ông cũng có thể nhận biết những dấu ấn của cuộc sống, lịch sử.
Giải thưởng lớn nhất mà ông đạt được là sự trân trọng của đồng nghiệp, của bạn đọc. Sơn Nam và Nguyễn Quang Sáng là hai trong số không nhiều nhà văn rất am tường đất đai, phong tục, con người Nam Bộ. Theo nhà văn Tô Hoài thì văn của Nguyễn Quang Sáng đặc quánh chất Nam Bộ, “không có cái nhàn nhạt chữ nghĩa dùng cho miền nào cũng được”.
Còn ông Phan Đắc Lập lại cho rằng “Nguyễn Quang Sáng có biệt tài kể chuyện. Bằng một lối văn mộc mạc, anh cứ thủ thỉ kể hết cuộc tình này đến cuộc tình khác như một người nông dân Nam Bộ kể chuyện đời xưa và chuyện tiếu lâm. Ấy vậy mà với những trang viết mộc mạc ấy, Nguyễn Quang Sáng đã chạm tới những rung động vi nhiệm của tình yêu”