Nhà thơ Yến Lan: Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng...

15:45 21/03/2011
Cùng với Quách Tấn, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, Yến Lan là một trong bốn thành viên của nhóm "Bàn thành tứ hữu" (bốn người bạn thơ đất Bình Định). Nhóm thơ này nổi tiếng kỹ lưỡng về sự đẽo câu, gọt chữ.

Trong đó Yến Lan - với một sự tỉ mẩn chẳng kém cạnh ai - ở giai đoạn trước Cách mạng cũng đã ít nhiều gây được ấn tượng cùng bạn đọc bởi những câu thơ chạm khắc công phu: "Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ/ Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi" (bài "Xa xanh"); "Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh/ Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng" (bài "Bến My Lăng")…

ó là những câu thơ cùng khơi gợi được cái sầu mênh mang sóng nước luôn ăm ắp trong hồn tác giả, và là những câu cô đúc đến độ khó có thể… cô đúc hơn.

Nói vậy song cái gì cũng có hai mặt. Bởi quá cầu kỳ trong việc dùng chữ (nhất là lại lạm dụng Hán ngữ) nên ở bài "Bình Định 1935" - một bài được xem là chồng chất những câu thơ khó hiểu của Yến Lan, ý thơ do bị… rán kỹ quá nên có chỗ hoặc là bị… cháy, hoặc là… khô kiệt.

Có những câu bản thân tác giả phải nhiều lần giải thích với người đọc, mà càng giải thích càng… rối. Như trong bức thư Yến Lan gửi ông Khổng Đức Đinh Tấn Dung ngày 5/4/1988, hai câu thơ "Ôi Bình Định hương phong trường cách biệt/ Những bâng khuâng trong đức hạnh sương hoa" được ông giải thích như sau: "Ý chung muốn nói: Cái phố nghèo nàn này, thế nhưng là mảnh đất đầy phong vị ngọt ngào cao thượng, nó (trường vượt thời gian) bị phong kín thành cõi cô liêu, xa cách với mọi nơi khác, nhưng cái vòng vây phong kín ấy đầy hương hoa, đầy tâm tư hoạt bát…(trường ở đây như nông trường, lâm trường)".

Thật là một cách giải thích lòng vòng, đến độ người được giải thích chẳng những không nghe lời tác giả mà sau đó lại có cách giải thích riêng của mình, rằng "Hương phong trường cách biệt" là "phong cảnh của trường thi hương Bình Định thời xa xưa giờ có còn chăng chỉ là sương hoa đức hạnh với nỗi niềm bâng khuâng nhớ lại những gì đã mất". Đây quả là một trường hợp hiếm gặp: Đến độc giả cũng muốn hiểu ý câu thơ khác với tinh thần của tác giả, chỉ bởi câu thơ quá… "kín nghĩa".

Nhà thơ Yến Lan (giữa) cùng các bạn văn.

Hẳn là nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhớ tới những câu thơ kiểu này của Yến Lan khi viết trong "Thi nhân Việt Nam": "Xem thơ Yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở". 

Vẫn biết, thơ hay không nhất thiết phải bài nào, câu nào cũng ý tứ rõ ràng, song nhìn chung, thơ Yến Lan thời kỳ trước Cách mạng hiếm bài đi vào tâm trí bạn đọc chính bởi tác giả quá nệ vào kỹ thuật, "già nhân tạo" mà "át thiên chân". Ông quá chú trọng tới sự chạm khắc, tỉa tót trong câu mà ít để ý tới mạch chung toàn bài (là điều mà cả Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đều không dám buông lơi).

Chính bởi vậy mà nhớ tới thơ Yến Yan thời kỳ này, độc giả nhớ nhất bài "Bến My Lăng", một bài thơ tạo được "không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích" như Hoài Thanh từng nhận xét. Bản thân "Bến My Lăng" cũng là thi phẩm có điệu thơ thanh thoát, với những hình ảnh và cách cấu tứ gợi phong vị cổ:

Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy, rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.

Ông không muốn run người ra tiếng địch
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.

Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải… trăng trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.

Nhưng đêm kia đến một chàng kị mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.

Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.

Cảnh trí yên ắng, tưởng như chỉ cần ông lão… thức dậy là hỏng cả bài thơ, là làm rạn vỡ bầu không khí thần tiên được thêu dệt bằng ánh trăng. Cứ thế, ông lão chìm dần vào cơn mơ không biết đâu trời đất, không còn ngày tháng, ngỡ như không gian, thời gian pha trộn vào nhau, hòa trộn vào bài thơ không thể nào gỡ ra được. Việc xuất hiện chàng kị mã ở khổ thứ tư của bài thơ cũng không làm đảo lộn nhịp yên bình của bến sông trăng…

"Bến My Lăng" là bài thơ từ ngữ cứ buông hờ, rất tạo không khí. Nó đưa ta, ru ta vào một thế giới mộng ảo thấm đẫm ánh trăng và rất đỗi ám ảnh. Sự "ám ảnh" này có lẽ còn được hỗ trợ bởi cách dùng ngôn ngữ của tác giả: Tất cả những chữ cuối của các câu chẵn (có trách nhiệm đỡ vần) đều là thanh bằng, lại gần như toàn không dấu (buông câu, mơn râu, trăng cao, trăng trăng, lưu ly, chưa đi, My Lăng, bao trăng…) khiến câu thơ đọc lên nghe rất… trong, rất gợi không khí đêm trăng.

Đọc "Bến My Lăng" của Yến Lan, tôi luôn liên tưởng tới một đêm thần diệu giữa chàng chăn cừu xứ Provence và cô chủ nhỏ trong kiệt tác "Những vì sao" của nhà văn Pháp A.Daudet, nhất là nhớ tới đoạn văn đầy khơi gợi sau đây: "Quanh hai chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình trầm lặng ngoan ngoãn như một đàn cừu lớn, và đôi lúc, tôi tưởng đâu một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất lạc mất đường đi đã đậu xuống vai tôi và thiêm thiếp giấc nồng".

Kể từ khi "Bến My Lăng" ra đời, đã có nhiều bạn đọc, vì sức hấp dẫn của cảnh trí do tác giả dựng lên trong bài thơ đã tò mò hỏi tác giả: Bến My Lăng ở đâu? Và nhà thi sĩ đã trả lời: "Bến My Lăng ở trong lòng tôi, và cũng có thể là ở trong lòng bạn…".

Có thể qua cách trả lời đó, tác giả muốn "bảo toàn" được sự thi vị của bài thơ, song chắc chắn còn một lý do: Bến My Lăng là một cái tên do tác giả tưởng tượng ra, tương tự trường hợp lá… Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm.

Yến Lan là người khá điêu luyện trong việc phác họa cảnh trí thiên nhiên. Bài "Về làng" (viết năm 1937), chỉ bằng đôi nét vẽ: "Ở đây nắng bãi võ vàng/ Dừa cao lểnh khểnh, cành xoan ngoằn ngoèo/ Con đường thì khuất cheo leo/ Mình đi chỉ bóng cùng theo với mình", ông đã ghi lại được những nét đặc trưng của một vùng đất vốn từ lâu gắn bó với mình. Ở bài "Lại về tỉnh nhỏ" (viết sau Cách mạng), thi nhân càng bộc lộ rõ khả năng này qua những nét bút thần diệu, vừa rất khơi gợi vừa giàu tính khái quát. 

Trước đây, trong bài "Nhớ" của Hồng Nguyên, tôi từng bắt gặp một câu thơ tả cảnh mặt trời lúc về chiều rất ấn tượng: "Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau". Mặt trời bất ngờ trở lại, khiến những hàng cau phải… đổ bóng, như thể nó bị nắng chiều… đột kích, hạ gục. Đó là một sự liên tưởng thú vị. Cũng sáng tạo như vậy là câu thơ của Yến Lan: "Tỉnh nhỏ/ Đìu hiu/ Mặt trời ngủ giữa chiều/ Trở mình trên mái rạ".

Thoạt đọc nhưng câu thơ này, hẳn có bạn sẽ thắc mắc: Nói "mặt trời ngủ" tức là mặt trời đã khuất bóng, ta không nhìn thấy, chứ sao lại có thể nói "Mặt trời ngủ giữa chiều" được? Theo tôi, tác giả viết vậy là chính xác. Có những thời điểm, mặt trời vẫn hiện diện, vẫn treo lơ lửng trước mắt ta, nhưng im lìm, "bất động", không khiến ta phải chú ý.

Thế rồi, chiều về, gió nổi lên, ánh mặt trời như được lay động sau những cành lá, nó xôn xao thức dậy, "trở mình trên mái rạ", gây xốn xang hồn người. Huy Cận chẳng đã từng viết về cái phút "chuyển ca" này đó sao:"Cát phừng ngoài bãi, bóng trong vườn/ Gió cũng theo sông tự nước nguồn/ Có phải đã vào trong giấc trẻ/ Làm ra xao động của hoàng hôn"?

Cũng trong "Lại về tỉnh nhỏ", bạn đọc còn bắt gặp những câu thơ rất ấn tượng, gợi cái không khí, nếp sống buồn tẻ một thời: "Tỉnh nhỏ/ Cô em/ nằm xem/kiếm hiệp/ Sân bàn cờ - cửa trường gài líp/ Mòn thước gõ đầu trò/ ông giáo đã hoa râm/Môi mùa hè đỏ bầm/ Rụng theo hoa cành gạo".

Nhân đây cũng cần nói thêm: Vừa rồi, tôi có đọc tập thơ "Cởi gió" của nữ thi sĩ trẻ Nguyễn Phan Quế Mai. Tập thơ có những liên tưởng táo bạo. Tuy nhiên, khi đọc đến câu "Giật mình nghe môi tháng Tư là nụ hoa gạo đỏ/ Những nụ hoa run rẩy gửi nụ hôn về phía chân trời", đối sánh với mấy câu thơ nói trên của Yến Lan, tôi nhận thấy nữ tác giả trẻ đã… chậm chân hơn lão thi nhân tới mấy chục năm.

Với những câu thơ tài hoa, ấn tượng, nêu lên được sự tù đọng, quẩn quanh, buồn tẻ của nhịp sống nơi tỉnh nhỏ, bài thơ đáng ra sẽ là một thi phẩm đặc sắc, nếu như nó không "mọc" thêm phần hai, nói về cuộc đời đổi thay, để rồi độn thêm vào đó những câu thơ gượng gạo, kiểu như: "Áp phích rao hai tối kịch/ cô em đứng xem/ lòng đầy tiếng nhạc", khiến chất thơ bị rơi rụng khá nhiều.

Cũng tương tự  "Lại về tỉnh nhỏ", bài "Uống rượu với bạn đồng hương" là bài vẫn thường được nhắc tới của Yến Lan giai đoạn sau Cách mạng. Bài thơ có những câu châng lâng mà sâu sắc, như từ men rượu chắt ra: "Nào rót nữa, uống đi/ Nguồn say còn lai láng/ Chén nhớ hẵng rót đầy/ Chén mừng đừng để cạn".

Tiếc là, bên cạnh những câu thơ thăng hoa như thế, có lẽ để thể hiện sự "cứng vững", uống mà vẫn… tỉnh táo của mình, tác giả đã phải chêm vào một đôi câu thơ liệt kê việc đời rất... loàng xoàng, khiến bài thơ không chốt lại được thành một bài hay trọn vẹn.  Ai cũng biết, trong các thể thơ, tứ tuyệt là một thể thơ khó.

Xuân Diệu từng nhận xét: "Tứ tuyệt là một thể thơ rất khó, phải tập trung, hàm súc, và cần có một sáng tạo gì như là một sự bất ngờ, một uẩn khúc trong 4 câu". Sinh thời, Yến Lan được xem là người sở trường về thơ tứ tuyệt. Cho tới khi mất, ông đã viết tới cả ngàn bài.

Với Yến Lan, có cảm tưởng những bài thơ tứ tuyệt nhỏ nhỏ xinh xinh gần gũi với ông như những bao diêm. Nó va đập, cọ xát trong suy nghĩ, tình cảm của ông, giúp ông lưu lại những tia sáng của ý tưởng cùng những khoảnh khắc ấm áp của cõi lòng.

Trong số này, bài thơ "Cầm chân em, cầm chân hoa" là một thi phẩm đã tạo được sự bất ngờ như yêu cầu mà nhà thơ Xuân Diệu đặt ra: "Em đến xin hồng, hồng chửa nụ/ Hôm nay hồng nở bóng em xa/ Cầm em bữa trước em không ở/ Giờ biết làm sao cầm được hoa".

Trong lời giới thiệu tập "Thơ Yến Lan" (NXB Văn học, 1987), nhà thơ Chế Lan Viên tâm sự, ông "rất thèm" viết được một bài "Lại về tỉnh nhỏ", một bài "Mùa xuân lên cao", một bài "Uống rượu với bạn đồng hương" như Yến Lan. Theo tôi, đây không phải là một lời an ủi, động viên người bạn thơ mà là sự thật. Chí ít hai bài thơ "Lại về tỉnh nhỏ" và "Uống rượu với bạn đồng hương" của Yến Lan đã cho tôi ý niệm như vậy.

25/2/2011

Phạm Khải

Chiều 18/4, Công an TP Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống các lực lượng: Tham mưu, An ninh nội địa, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Tài chính CAND. Đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội dự và phát biểu chỉ đạo tại lễ kỷ niệm.

Một đoàn tàu gồm 8 tàu chở dầu đã bắt đầu hành trình băng qua eo biển Hormuz. Đây được coi là đợt lưu thông quy mô lớn đầu tiên kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bùng nổ cách đây 7 tuần. Tuy nhiên, hy vọng về việc khai thông huyết mạch dầu khí toàn cầu này vẫn mong manh khi Tehran tuyên bố thắt chặt kiểm soát quân sự tại đây.

Ngày 18/4/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Ban liên lạc cựu tù chính trị Côn Đảo (Trại 1 -6B) đã tổ chức buổi họp mặt truyền thống kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và giải phóng Côn Đảo. Tham dự họp mặt có Trung tướng Châu Văn Mẫn, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND (Bộ Công an), cùng gần 100 cựu tù Côn Đảo, cựu tù kháng chiến từ các vùng miền đã về dự.

Theo Cục CSGT, tất cả các học viên trước khi tham dự ký thi sát hạch GPLX đều bắt buộc phải xem video clip cảnh báo về tai nạn giao thông. Đây cũng là một trong những bước nhằm xây dựng đạo đức, trách nhiệm tối thiểu cho người lái xe mà lực lượng CSGT đang hướng tới.

Khảo sát của Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh đưa ra vào ngày 16/4 vừa qua cho thấy, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng (VLXD) chính đều tăng do giá xăng, dầu tăng. Đây là cú sốc tăng giá thứ 2 sau chuyện tăng giá do khan hiếm VLXD, cung không đủ cầu xảy ra thời gian qua. Tình trạng này kéo dài đang gây sức ép không nhỏ lên các công trình hạ tầng đô thị, giao thông trọng điểm đã và đang triển khai... 

Cục Cảnh sát hình sự và Công an các đơn vị, địa phương liên quan đã làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trực tuyến “di cư” từ Campuchia về Việt Nam, sau khi cơ quan chức năng nước bạn đẩy mạnh truy quét; tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng CAND.

Tháng 4/2026, giữa Khu công nghiệp (KCN) Quán Ngang – nơi từng được kỳ vọng là điểm sáng thu hút đầu tư phía Nam tỉnh Quảng Trị – một công trình xử lý nước thải có tổng mức đầu tư hơn 100 tỉ đồng vẫn nằm im lìm sau hơn 8 năm kể từ ngày khởi công. Đáng nói, đây không phải lần đầu câu chuyện này được đặt ra. Nhiều năm qua, tình trạng chậm tiến độ, lỡ hẹn của dự án đã liên tục được phản ánh, nhưng đến nay, nhà máy vẫn chưa thể vận hành chính thức.

UBND phường Thanh Liệt (Hà Nội) vừa phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành cắt điện, nước đối với hơn 620 nhà xưởng, cơ sở vi phạm quy định về pháp luật đất đai, trật tự xây dựng trên địa bàn phường. Đây là các công trình được xây dựng trên đất nông nghiệp, xây dựng trái phép...

Sáng 18/4, Đội Cảnh sát đường thủy số 2 (Phòng CSGT Công an TP Hà Nội) phối hợp Cảng vụ Đường thủy nội địa Hà Nội tổ chức kiểm tra các tàu du lịch hoạt động trên sông Hồng, tập trung rà soát điều kiện an toàn, trang thiết bị cứu sinh và việc chấp hành quy định chở khách, nhằm bảo đảm an toàn cho hành khách.

TP Hồ Chí Minh đang đối mặt với những sức ép môi trường ngày càng lớn từ gia tăng dân số, đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giao thông cho đến nông nghiệp, y tế, du lịch. Do vậy, giải pháp bền vững, vừa phát triển nhanh kinh tế- xã hội vừa đảm bảo môi trường đang được thành phố tập trung triển khai…

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文