Nhà văn Nguyễn Văn Bổng: Viết để bạn đọc tin vào nhân vật

10:11 23/07/2021
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng sinh ở miền Trung, nhiều năm sống ở miền Bắc, nhưng sự nghiệp văn học của ông lại được nuôi dưỡng bởi con người và thiên nhiên miền Nam. Cuộc đời ông là minh chứng nổi bật về mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống và những câu chuyện trên trang viết.

Chính phong cách sáng tác này đã tạo cho những đứa con tinh thần của nhà văn có sức sống mạnh mẽ. Và đặc biệt, bạn đọc trong nước và nước ngoài luôn có lòng tin vào những nhân vật cũng như những câu chuyện của ông. Đó là phần thưởng xứng đáng và trân trọng nhất đối với một nhà văn.

Khi tôi còn là một cậu bé học cấp II, tối tối, tôi thường la cà ở các Hiệu sách Nhân dân trên các phố Bạch Mai, Khâm Thiên và Tràng Tiền… để tìm mua sách mới. Một lần, tôi đã tìm được cuốn “Rừng U Minh” của tác giả Trần Hiếu Minh. Cuốn sách viết về phong trào đồng khởi ở Cà Mau. Chúng ta nói nhiều về đồng khởi, nhưng chủ yếu ở Bến Tre. Tại sao tác giả lại tìm về Cà Mau? Cuốn sách có bìa in sậm màu đất. Đặc biệt, chữ nhỏ li ti, nhưng rất hấp dẫn. Tôi rất thích những trang nhà văn tả cảnh vật và thiên nhiên Cà Mau. Chúng gợi lên trong tôi tình yêu đất nước, tình yêu cỏ cây ở xứ sở mà mình hằng mơ ước.

Tôi nhớ một đám ruộng gặt rồi chỉ còn trơ gốc rạ, một ánh lửa chiều hôm, một chân trời vần vụ, một con ong ve vãn bông tràm chiếu ánh mặt trời, một con cá đối quẫy sáng trên mặt nước mặn đêm khuya… Nhưng chiến tranh, hai miền còn chia cắt, song ước mơ càng thôi thúc. 

Từ trái sang: Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà văn Nguyễn Văn Bổng, nhà văn Lý Văn Sâm.

Mãi sau này, khi được biết, tác giả Trần  Hiếu Minh chính là nhà văn Nguyễn Văn Bổng, người viết tiểu thuyết “Con trâu” mà chúng tôi được học ở trường phổ thông, tôi càng yêu hơn. Sau này, được nghe ông kể, ông viết “Rừng U Minh” trong hoàn cảnh thế nào. Vừa đi vừa viết. Viết được bao trang, lại phải bọc bản thảo trong túi nilon, cất trong hòm đạn bằng sắt, đào hố, chôn dưới đất, trong rừng sâu. Đề phòng địch càn, bom ném… Rồi sau nữa, tôi được đọc bài thơ Bản thảo của nhà thơ nổi tiếng người Nga K. Simonov viết về cuốn sách và nhà văn:

Người miền Nam kể chuyện miền Nam

Đã bảy năm anh ở ngoài mặt trận

Đôi bàn tay cầm súng

Bản thảo trên lưng

Anh dưới đạn, bản thảo cũng dưới đạn

Và anh, và bản thảo trên lưng

Giấu ở rừng chăng?

Mối xông lên mất

Chôn dưới đất chăng?

Một tháng thôi đã nát

Như chả viết tí gì

Gửi ai chăng?

Chúng lùng chúng giết

Không phải anh

Mà người giữ giùm anh…

Cầm cuốn sách trên tay, tôi hiểu, mỗi dòng chữ này thấm đẫm mùi vị của đất đai, của sông nước, của “hương rừng Cà Mau”, của những cuộc trốn tránh, ẩn náu trước quân thù và thiên tai, liên quan đến bao số phận. Cuốn sách không còn là cuốn sách bình thường. Và nhà văn ở chiến trường miền Nam không chỉ là một nhà văn đơn thuần.

 Được nghe tác giả kể chuyện những dòng nước kỳ lạ, sự quyến rũ đầy ẩn dụ của chúng, nhưng người viết cần giữ cái đầu lạnh để cảnh giác với trái tim nóng ra sao: “Chúng ta ở miền Bắc hay miền Trung thường quen nghĩ rằng nước sông chảy xuôi từ núi xuống biển: “Non xanh đã biết hay chưa / Nước đi ra biển lại mưa về nguồn” (Tản Đà). Nhưng trên đồng bằng châu thổ Cửu Long, sông rạch nước bồng bềnh. Nước xuôi ngược không theo chiều từ nguồn ra biển, mà theo cơn lớn ròng thủy triều. Vì ở đây có những con sông mà nước khúc xuôi,  khúc ngược; trên những dòng kinh rạch chi chít, người ta chỉ nhớ đường bằng bao nhiêu khúc ngược, xuôi. Ngã ba sông có nơi thành chỗ “giáp nước”, nghĩa là chỗ mà các dòng nước ngả xuôi bên này ngả ngược bên kia. Tên “Giáp Nước” quyến rũ đến nỗi lúc đầu tôi định chọn viết trong tiểu thuyết phong trào vùng Giáp Nước, thuộc xã Phú Mỹ. Nhưng sau, rừng U Minh và sông Cái Tàu càng quyến rũ tôi hơn, tôi về Khánh An”.

Nhưng hấp dẫn hơn đối với ông là con người. Những con người, dưới góc nhìn của nhà văn, được phân tích một cách thấu đáo, khoa học.  Xưa nay, nông dân ta thuộc vào hạng những con người cùng cực nhất thế giới, vì vậy họ có thể chịu đựng tất cả để được quyền ăn nói, được nhìn thẳng vào mặt quân thù, được đánh trả lại chúng khi chúng hành hung mình. Được làm chủ một mái nhà, một khoảng vườn, một phần ruộng, điều mà trước họ mơ ước như người mù mơ thấy trời xanh. Được kêu bằng “ba, má, chú, bác cô, dì” chứ không chỉ là những “thằng nọ, thằng kia”… Và ông yêu, ông hiểu những người dân của vùng đất mới với cả trái tim.

“Đến đây chỉ có hai con đường: một là không đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để sống. Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí, coi tính mạng nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi khinh như rơm rác. Đối với họ, nghĩa khí là trọng. Họ không cần nhà đẹp, vì xưa nay có ở đâu được lâu. Nhà của họ là “nhà đạp”, “nhà đá” dựng lên đó, ở đó, nhưng nếu không chịu nổi áp bức thì họ lại đạp đi, đá đi, đến chỗ khác mà ở.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng.

Họ chẳng cần mặc sang, và có thì ăn, cũng không cần lo ngày mai lắm. Vì trước đây họ có chắc gì được sống đến ngày mai; còn miễn sống được thì ngày mai ở trên hai cánh tay mình, dưới sông, trong rạch, trong rừng kia! Họ vồ vập hiếu khách, vì cuộc đời họ đã buồn lắm, heo hút, cô đơn lắm rồi. Họ chỉ có tình nghĩa là đậm đà với nhau. Họ sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, vì đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ thế nào. Và trên hết họ rất căm thù. Đừng đụng đến họ. Họ không cần nhiều lý lẽ. Lý lẽ ở trong bụng họ. Họ cần việc làm. Họ cần những cái thực tế để họ được sống, được làm người… Đó, nếu muốn tìm hiểu phong trào đồng khởi của miền Tây Nam bộ có khác gì phong trào đồng khởi ở miền Trung Nam bộ và các nơi khác, có gì khác những cuộc khởi nghĩa khác trên đất nước ta, phải tìm trong những người nông dân đó”.

Trong “Rừng U Minh” có đến bốn mươi nhân vật. Nhưng nhân vật nào cũng được ông quan tâm, chăm sóc kỹ càng. Ông quan niệm, nhân vật phải có thủy có chung. Trong gần bốn chục nhân vật có tên, hầu hết ông muốn họ có số phận rõ rệt, rất ít nhân vật chỉ đóng vai trò “cầm cờ”, “chạy hiệu”. Trong tiểu thuyết có một “nhân vật đặc biệt”, đó là con chó. Số phận của nó thật đáng thương. Nó sẽ bị chính ông chủ của nó đập đầu vì lợi ích chung. Ông kể, ông đã sống với nó từ đầu đến cuối, nơi nào có thể nghĩ đến ông đều nhớ đến nó. Nó tuy chết đi, nhưng nếu có dịp thì hình ảnh của nó vẫn sống trong tiểu thuyết. Không nên bạc bẽo với nhân vật của mình.

Ông bám trụ lâu ngày ở xã Khánh An nằm ở phía đông rừng U Minh. Nhưng cũng có những chuyến đi phát sinh ngoài ý muốn. Có một lần, một chiến sĩ cách mạng, ở tù lâu ngày, muốn về thăm quê ở vùng Hương Mai, phía tây U Minh. Anh này rủ nhà văn về cùng. Ông phân vân vì nhiều lý do. Nhưng cuối  cùng vẫn quyết định đi. Không ngờ, sau này, khi viết, những cảnh phía tây U Minh đã giúp ông rất nhiều trong việc viết về phía đông. Công việc viết văn phải như vậy. Không có sự hiểu biết nào là phù phiếm.

Những năm đầu viết văn, Nguyễn Văn Bổng xuất bản hai tiểu thuyết thuộc dòng lãng mạn. Năm 1944, ông xuất bản hai tiểu thuyết “Say nửa chừng”, “Dưới đáy sông Hương”. Cả hai cuốn đều thể hiện tâm trạng bế tắc của những người trẻ tuổi trước thời thế. Nhưng sau đó, ông chuyển sang phong cách hiện thực. Tiêu biểu là tiểu thuyết “Con trâu” (1952).

Tại sao có bước chuyển này?

Ông thổ lộ: “Tôi thuộc thế hệ những người viết văn ở nước ta mà phần lớn đi từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực. Bước vào thời đại mới với những hiện thực vĩ đại, chúng tôi thường bị choáng ngợp một cách chính đáng. Chúng tôi thường dễ chép nguyên thực tế đời sống xung quanh, dễ xem thường trí tưởng tượng, vì thực tế thường vượt qua trí tưởng tượng của mình.  Do đó dễ có một thứ văn học chỉ toàn là tài liệu, tình hình, thời sự, phong trào chung chung. Tình cảm và tư tưởng con người đáng lẽ là chất liệu của văn học lại nhường bước cho các tài liệu của các phong trào”.

Nhưng khác với đa phần các nhà văn cùng thế hệ, ông đã sớm tìm ra con đường riêng của mình. Ông nói thẳng về những công việc đằng sau trang viết: “Tiểu thuyết của tôi có động đến những vấn đề lớn của thời đại, hòa bình hay chiến tranh, chính trị hay vũ trang… Tôi cố gắng giải quyết các vấn đề ấy trong phạm vi diễn biến tư tưởng và tình cảm của nhân vật. Vì vậy, khi ghi chép tình hình, tôi ghi chép rất tỉ mỉ, chính xác từng ngày giờ, nhưng vào tiểu thuyết thì đã cố gắng chuyển tất cả vào tư tưởng, tình cảm của nhân vật”.

Quan điểm sáng tác đó đã giúp ông thành công với hai tiểu thuyết sau này là “Sài Gòn 67” và “Áo trắng”. Sau khi tập kết ra Bắc, năm 1963, ông vào Nam. Năm 1966, ông vào hoạt động ở Sài Gòn. Ông thường ở tại nhà của người bạn cũ là Nguyễn Đức Dũng (nhà văn Vũ Hạnh) và nhà văn Lưu Nghi. Ông chủ yếu tiếp xúc với đời sống Sài Gòn vào ban đêm, nhưng ban ngày, cuộc sống của đô thị thời chiến vẫn thúc đẩy ông suy nghĩ, phân tích, nhận định và hy vọng.

Tiểu thuyết “Áo trắng” ra đời sau nhiều lần ông được nghe cô sinh viên Nguyễn Thị Châu kể lại mối tình với người bạn đời Lê Hồng Tư, một trí thức trẻ. Những gian khổ, những nghị lực của thế hệ trí thức dấn thân dưới chế độ độc tài và thực dân xâm lược là những chất liệu vàng ngọc, qua lao động sáng tạo của cây bút bậc thầy, đã tặng cho cuộc đời cuốn sách quý. Những năm đầu thập kỷ 70, tuổi trẻ miền Bắc say mê đọc.

Các bà chị tôi còn chép lại nhiều đoạn. Nó khác hẳn với tâm trạng của anh sinh viên ngày trước mà nhà văn miêu tả trong “Dưới đáy sông Hương”. Nhân vật giả chết, nằm đưới đáy sông thơ mộng, để quan sát thế thái nhân tình.  Rồi “Áo trắng” được dịch sang tiếng Nga, tiếng Hàn… Tiểu thuyết “Sài Gòn 67” cũng vậy. Những trăn trở của giới trẻ trước thời cuộc, trước nạn ngoại xâm, trước con đường tương lai… được nhà văn thể hiện đầy sâu sắc qua đối thoại, độc thoại và hành động của các nhân vật như anh sinh viên Huỳnh Thanh Hiệp, nữ sinh Diệu Thúy, luật sư Trần Thanh Phát… Nhà văn cũng thể hiện rất sắc nét nhân vật phản diện Lâm Đại Tân.

Cả một đời, nhà văn Nguyễn Văn Bổng luôn trăn trở với nghề văn và đội ngũ kế cận. Ông đọc nhiều các cây bút trẻ và thẳng thắn chỉ cho họ những cái được và những hạn chế. Ông phê bình các nhà văn trẻ, khi viết về Sài Gòn, thường chỉ có chuyện, ít thấy các mặt cuộc sống ở những nơi này. Họ chỉ gây được ấn tượng trong việc miêu tả các mặt tiêu cực của cuộc sống. Cần phải làm rõ phần ánh sáng, không phải hôm nay mới có, mà vẫn có, đã có, có nhiều… Hoặc khi dư luận hết lời khen một tác phẩm mới của một cây bút mới, ông vẫn phát biểu chính kiến của mình.

Đó là vấn đề người đọc không tin vào nhân vật. Ông dẫn câu chuyện, có người hỏi Banzac, sự khác nhau giữa một nhân vật tiểu thuyết và người thường là thế nào? Banzac trả lời: “Nhân vật tiểu thuyết là bất cứ người nào trên đường phố, khi người ấy đi tận cùng vào con người của mình”. Di sản của ông, những bài học kinh nghiệm sáng tạo văn học của ông thật lớn. Song rất tiếc, ít ai để ý. Và tiếc hơn, ít người biết cách học hỏi, khai thác.

Đoàn Tuấn

LTS: Những gì cổ hủ, lạc hậu ắt là xưa cũ. Nhưng có phải những gì xưa cũ cũng đều cổ hủ, lạc hậu hết hay không? Ứng xử với xưa cũ thế nào để đảm bảo vẫn giữ tốc độ tăng trưởng tiến bộ và vừa không “đánh rơi” đi mất phần tinh thần?

Trong 2 ngày 9 và 10/4, tại Thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào đã diễn ra Hội nghị Hợp tác An ninh Việt Nam - Lào lần thứ XVI. Tham dự Hội nghị, Đoàn đại biểu Bộ Công an nước CHXHCN Việt Nam do Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an dẫn đầu; Đoàn đại biểu Bộ Công an nước CHDCND Lào do Trung tướng Èn Ùn-a-nông-nút, Thứ trưởng, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an dẫn đầu.

Từ khi hoạt động đến tháng 4/2025, với mục đích thu lời bất chính, thu hút được nhiều khách hàng, Công ty TNHH Công nghệ Herbitech đã sản xuất 67 loại sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe là hàng giả. Cơ quan CSĐT Bộ Công an thông báo cho tổ chức, cá nhân đã mua, sử dụng các sản phẩm trên và những người khác liên quan biết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Để giữ chân và thu hút người giỏi vào lực lượng Công an nhân dân (CAND), điều quan trọng nhất là phải có cách tiếp cận đồng bộ, thực chất và đủ sức cạnh tranh theo đúng tinh thần được xác định tại Kế hoạch số 15 của Đảng ủy Công an Trung ương. Đồng thời, cũng cần tiếp cận theo tư duy mới: Không chỉ tuyển được người giỏi mà quan trọng hơn là phải tạo được môi trường làm việc, cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn để người giỏi, người tài muốn vào, yên tâm ở lại và có cơ hội phát triển lâu dài.

Dự án cao tốc đường bộ Bắc – Nam phía Đông đã đưa vào khai thác, lưu thông, trong đó một số đoạn, tuyến đã tổ chức thu phí nhưng vẫn còn một số hạng mục chưa hoàn thiện; các trạm dừng nghỉ cũng ì ạch thi công và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn trên cao tốc qua các tỉnh miền Trung gia tăng trong thời gian gần đây.

Sau thỏa thuận ngừng bắn tạm thời, cuộc gặp trực tiếp giữa Mỹ và Iran tại Islamabad được kỳ vọng mở ra cơ hội hạ nhiệt căng thẳng, nhưng cũng đối mặt nhiều hoài nghi khi hai bên vẫn giữ lập trường cứng rắn về các vấn đề cốt lõi, từ hạt nhân đến an ninh khu vực và vai trò của các điểm nóng như Lebanon.

Với Zinedine Zidane, dẫn dắt đội tuyển Pháp không đơn thuần là một lựa chọn nghề nghiệp, mà còn là mục tiêu mang ý nghĩa đặc biệt trong hành trình sự nghiệp. Kể từ khi rời Real Madrid vào năm 2021, huyền thoại bóng đá Pháp gần như đứng ngoài mọi lời mời gọi ở cấp CLB để chờ đợi cơ hội dẫn dắt “Les Bleus”.

Một đứa trẻ có hai người chăm sóc, nuôi dưỡng thực tế gia đình có yếu tố LGBT (gia đình có hai người cùng giới tính đóng vai trò là cha, mẹ) nhưng giấy khai sinh chỉ ghi nhận một người. Điều này tạo ra "khoảng trống pháp lý", khiến người còn lại không có quyền đại diện hay địa vị pháp lý đối với đứa trẻ khi có sự cố xảy ra.

Việc xây dựng và ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là một bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý của nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, với yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và tin cậy đối với các nhà đầu tư quốc tế.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文