Như nuối tiếc một thời trai trẻ
Nhiều người thắc mắc tại sao trong câu thơ của Thanh Tùng “Như máu ứa một thời trai trẻ” hay là vậy mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng lại thay bằng “nuối tiếc” trong ca khúc “Thời hoa đỏ”, ông chỉ cười: Có lẽ, cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn hát lên một nỗi buồn bi lụy…
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mở đầu câu chuyện bằng ca khúc "Thời hoa đỏ" - một ca khúc không chỉ là tiếng lòng của những con người đã đi qua một tuổi trẻ đắm say mà còn là ca khúc "ruột" của không biết bao thế hệ sinh viên mỗi tối ngồi gảy ghi ta hát trên những căn phòng nhỏ của các kí túc xá.
Năm 1989, Hội Nhạc sĩ Việt
Sau một tháng, ông phải chuyển sang Bệnh viện lao, hết nằm lại ngồi, ông chợt lục trong ba lô của mình tập thơ "99 bài thơ tình" do một người bạn tặng trước lúc lên đường để ngày ngày đọc cho khuây khỏa. Đọc đến bài thơ có tên "Thời hoa đỏ" của nhà thơ Thanh Tùng, ông rất thích những câu thơ như thế này: “Mỗi mùa hoa đỏ về/Hoa như mưa rơi rơi/Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/Như máu ứa một thời trai trẻ…”.

Nhạc sỹ Nguyễn Đình Bảng (thứ 3 từ phải sang) và nhà thơ Huy Cận (thứ 6 từ phải sang) trong lần đi biểu diễn ở Pari năm 1969.
Ông chỉ cảm nhận những tình cảm của tác giả thơ qua câu chữ, còn lúc này ông chưa biết Thanh Tùng là ai, và bài thơ này anh viết cho ai, ông chỉ nghĩ, hẳn đây là thơ của một người viết cho một kí ức rất đẹp nhưng không còn trong hiện thực nữa. Ông liên tưởng đến điệu quân tử vu dịch: “Dặm trường thân gái một mình, gánh sầu xe nửa gánh tình chia đôi” mà nàng Châu Long hát tiễn Lưu Bình trước lúc đi thi trong tích chèo “Lưu Bình - Dương Lễ”. Nỗi buồn trong tích chèo cũng mênh mang, man mác như những câu thơ ấy, và tự nhiên trong tim ông, những nốt nhạc bắt đầu thốt ra, chậm rãi, nao nao như những tiếng bước chân vọng về từ quá khứ: “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao, bước lặng trên con đường vắng năm nao, chỉ còn tiếng ve kêu ồn ào, mà chẳng cho lòng nguôi yên chút nào…”.
Bài hát ráo mực, ông ngồi hát một mình trên giường bệnh, lòng cảm thấy nhẹ bẫng khi nỗi buồn, nỗi cô đơn hơn cả tháng nay bỗng dưng bay đâu mất và sau đó ông dần bình phục trở lại. Về nước, ông bắt tay vào việc thu âm ca khúc với tiếng hát Lệ Thu, giọng alto chuẩn, cách nhả chữ đều đặn, tròn trịa đã gợi được hình ảnh của những cánh phượng rơi và bước chân chậm rãi của đôi tình nhân dưới vòm lá kỉ niệm. Và bài hát như là chiếc cầu nối để nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng có thể gặp tác giả của ca từ trong ca khúc "Thời hoa đỏ" mà ông chưa may mắn một lần biết mặt.
Qua giới thiệu của người bạn tặng ông tập thơ có bài "Thời hoa đỏ" thuở trước - nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, nhà thơ Thanh Tùng từ thành phố Hoa phượng đỏ Hải Phòng lên Hà Nội gặp ông. Nhà thơ Thanh Tùng đã được nghe ca khúc "Thời hoa đỏ" qua Đài TNVN, và nghệ thuật là thế, không cần phải giới thiệu nhiều, họ đã đọc được gan ruột của nhau trong lời thơ, nốt nhạc và họ ôm chầm lấy nhau. Anh lấy làm ngạc nhiên khi bài thơ của mình là thơ tự do, đôi câu còn trúc trắc nhưng khi vào nhạc lại nuột nà đến thế. Còn nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng "muộn màng" xin phép được đổi mấy chữ: "... nhất là chữ tan tác và máu ứa, tớ thấy nó buồn quá, mà kỉ niệm thì buồn là đương nhiên, nhưng phải là cái buồn man mác, lạc quan chứ không bi lụy".
Cũng hôm ấy, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mới biết, đây là bài thơ mà nhà thơ Thanh Tùng viết tặng người yêu, người bạn đời của mình đã bỏ lại kí ức đẹp và thời hoa đỏ diệu kì để về nơi xa lắc. Trong xứ sở thiên thần của kỉ niệm và tình yêu, trong nỗi đau bất tận của con tim yêu như cánh phượng, dù rơi rồi nhưng vẫn ứa đỏ những con phố, nhà thơ Thanh Tùng đã viết bài thơ này. Nhà thơ và nhạc sĩ cám ơn nhau, và cũng từ đó, họ là bạn.
Ca khúc "Thời hoa đỏ" được liệt vào một trong những tình ca hay nhất của ca khúc Việt
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng cho rằng, ca khúc này mang âm hưởng của âm nhạc dân gian nhưng ông đã biến hóa, phát triển thành của mình, hiện đại hóa nó. Ông cũng cho rằng, trong những ca khúc của ông có hai điều: đều có chất liệu dân gian như thế, và đều gợi lại bóng hình quá khứ, nhưng không phải là quá khứ đã trôi đi vĩnh viễn mà là quá khứ đọng lại với cuộc sống hôm nay để người nghe soi vào đấy mà tìm thấy hiện thực cuộc sống được tái tạo.
Để có được điều đó với ông là sự đánh đổi cả một đời. Sinh ra từ vùng quê chiêm trũng của tỉnh Hà
Tuổi thơ ông đi đánh giậm, đơm con tép bắt con cua, đói khổ thế nhưng bù lại, những làn điệu chèo của quê lúa dần ngấm vào máu thịt ông. Ông tham gia đội thiếu niên kháng chiến, lúc này chiến sự căng thẳng, thương binh được chở từ Kiến An sang làng ông để cứu chữa, hằng ngày ông cùng các bạn quạt, hát và thổi sáo cho các chú thương binh nghe.
Năm 1950, học hết trung học cơ sở, ông đăng kí thi vào Trường Trung cấp Cơ điện với mong ước trở thành người thợ để sau này thoát khỏi đói nghèo. Nhưng khi chưa có giấy báo nhập học, có một đoàn nghệ sĩ về quê tuyển ông vào Trường Ca kịch Việt
10 năm làm nhạc công, ông học được nhiều điều, ở nhiều con người, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc cổ truyền. Và cũng trong 10 năm ấy, ông đã có được một mối tình đẹp với con gái của nhà văn Hàn Thế Du, tác giả của các vở chèo "Lưu Bình - Dương Lễ", "Xúy Vân"… và là người từng được giải thưởng Tự lực văn đoàn những năm 1936-1938 với truyện dài "Bóng mây chiều".
Cũng theo nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng thì ông học được rất nhiều từ người bố vợ, đó là sự miệt mài lao động, sự chăm đọc sách, tìm tòi sáng tạo trong kho tàng âm nhạc dân gian truyền thống. Đã có lần, ông định đi học thêm để nối nghiệp nhà văn Hàn Thế Du bởi vì ông cũng hay làm thơ đăng báo, nhưng có lẽ chèo với ông, chỉ là duyên thoảng qua để nhớ mãi trong các ca khúc, chứ dấn thân một đời như bố vợ ông thì không phải là duyên nợ.
Năm 1967, ông đi biểu diễn cùng Nhà hát Chèo phục vụ bộ đội và TNXP trên con đường Trường Sơn huyền thoại suốt 6 tháng. Từ ngã ba Đồng Lộc đến đèo Đá Đẽo hay bến phà Gianh, chiến tranh qua đi đọng lại trong ông là kỉ niệm những tháng ngày không quên.
Đó là những tiếng cười khỏa nước của các cô TNXP giữa Trường Sơn mưa bom bão đạn, là những cô gái ngã ba Đồng Lộc như cài sẵn tiếng báo động trong tiềm thức, canh cánh trong giấc ngủ để bất ngờ báo động, họ đã có mặt ngay trên những chặng đường bên cạnh đạn bom và pháo sáng, là những ánh mắt chan chứa niềm tin và những cánh tay chào gọi một chiến thắng sẽ đến.
Đó cũng là một thời hoa đỏ diệu kì của ông, một quá khứ mãi thổn thức trong trái tim người nghệ sĩ nặng tình này. Ông cũng có sáng tác âm nhạc trong thời gian đó, nhưng chỉ sáng tác cho các vở chèo ngắn. Năm 1969, ông lại cùng một đoàn nghệ sĩ do nhà thơ Huy Cận làm Trưởng đoàn sang Paris biểu diễn nhân Hội nghị Paris 4 bên về Việt Nam và sau khi về nước, đoàn được Bác Hồ gặp và Bác khen, lúc này Bác đã rất yếu.
Ông nghĩ rằng, 10 năm làm một nhạc công lặng lẽ trên sân khấu vậy là đủ, ông muốn đi học Tổng hợp Văn nhưng đồng chí Hoàng Kiều - Giám đốc Nhà hát lại khuyên ông nên đi theo âm nhạc. Ông thi vào Khoa Sáng tác, học khóa 1973-1978 của Trường Âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Hà Nội bây giờ), và trở thành một nhạc sĩ. Ông về công tác ở Nhà xuất bản Âm nhạc Dihavina với vai trò của một biên tập viên, và đây chính là quá trình ông tiếp xúc với âm nhạc từng ngày từng giờ, không ngừng tích lũy, học hỏi từ các đồng nghiệp để vững vàng hơn trong sáng tác. Ông cảm thấy tự tin vì suốt một đời học hỏi của mình.
Chuyện dài là thế, nhưng đó là những gì để ông có được "Thời hoa đỏ", "Cơn mưa em bất chợt", "Du thuyền sông Lam", "Khỏa trần Trường Sơn" hay ballad symphoni “Thị Kính-Thị Mầu”… Đặc biệt với "Khỏa trần Trường Sơn" đầy ắp kỉ niệm chẳng khác "Thời hoa đỏ", nhưng là thời hoa đỏ của chính ông suốt những năm tháng đạn lửa với những cô tiên (xin được gọi thế) TNXP: “Khỏa trần giữa Trường Sơn, khỏa trần giữa Trường Sơn, một đời xuân độc thoại, vật vã cùng con đường, sốt rừng đeo đẳng mãi, cả tiểu đội con gái, Trường Sơn khỏa trần". Bi đấy mà tráng đấy, hào hùng đấy nhưng nỗi đau cuộc chiến vẫn nhức nhối trong các chị còn mãi tới hôm nay.
Bài hát này ông ủ kí ức đến 20 năm sau ông mới viết, mới thấy cái tình người trong ông đâu dễ lãng quên. Một tuổi thơ tự lập, một đời trai tự huyễn, một đời người không tự biến mình, tự lập ngay trong âm nhạc nên ông sống rất thật và trách nhiệm với từng nốt nhạc. Cũng như có lần ông từng nói: "Học nhiều hay học ít, kĩ thuật thế nào tùy ở từng người tích lũy. Nhưng bài hát có tồn tại hay không là ở chỗ nó có tình người hay không, nó đòi hỏi người nhạc sĩ phải sống thật với chính mình, với cuộc đời. Điều này vừa là trời phú, nhưng cũng vừa là trời đày đấy!"