Ông vua mặt trời và bệnh loét dạ dày của thiên tài kịch Moliere
Không chỉ ở phương Đông thời xưa mà cả ở phương Tây, các văn nghệ sĩ đều mong mỏi được triều đình sủng ái. Nhà viết kịch vĩ đại người Pháp Molière (1622-1673, tên thật là Jean- Baptiste Poquelin) cũng không phải là ngoại lệ. Những vở kịch xuất sắc đã giúp ông lọt "mắt xanh" của Louis XIV (1638-1715), ông vua duy nhất ở Pháp được tôn vinh Đại đế. Oái oăm thay, chính tình vua tôi thân thiết này đã khiến cho Molière mắc bệnh loét dạ dày như chính đức vua vậy.
Ông vua Mặt trời
Louis XIV được coi là vị vua có quyền lực mạnh mẽ nhất ở châu Âu thời đại mà ông sống. Con trai của Louis XIII (1601-1643) và Anne d'Austrie, nhưng ông được vinh danh "Ông vua Mặt trời" không chỉ vì dòng dõi cao quý của mình mà vì những nỗ lực của chính bản thân trong công cuộc "an dân trị quốc" đầy khó khăn và bất trắc. Khi ông cất tiếng khóc chào đời vào ngày chủ nhật 5/9/1638 sau 20 năm cha mẹ mình cưới nhau, các thần dân Pháp coi đó như một điềm lành cho vương quốc.
Lên 5 tuổi, mồ côi cha, ông vua tí hon đã phải trải qua một tuổi thơ nhiều nhiễu nhương khi mẹ mình nắm quyền nhiếp chính với sự trợ giúp của Hồng y giáo chủ Mazarin. Anne d'Austrie đã giao cho vị Hồng y kiêm Thủ tướng này theo dõi việc chăm lo dạy dỗ vị vua bé bỏng. Phải công nhận rằng Hồng y giáo chủ Mazarin đã thực hiện nhiệm vụ của mình rất tận tâm và nhờ thế, Louis XIV đã thu nhận được một nền học vấn khá hoàn chỉnh không chỉ trong những lĩnh vực nhân văn nói chung mà trong cả nghệ thuật điều hành quốc gia đại sự. Cũng chính Hồng y giáo chủ Mazarin đã sớm đánh thức trong lòng ông vua bé bỏng tình yêu say đắm và không phù hoa đối với các môn nghệ thuật.
Tuy nhiên, những ngày êm ấm trong tuổi thơ của Louis XIV không kéo dài lâu. Khi nội chiến bùng nổ, vua mới chưa đầy 10 tuổi. 5 năm tiếp theo đã thổi vào đời sống của vị vua trẻ thơ những kinh nghiệm đắng đót vì phải đối mặt không chỉ với những hiểm nguy mà cả những sự phản trắc của không ít bạn bầu, thân thuộc.
Những điều nhiễu nhương tai nghe mắt thấy trong những chuyến bắt buộc phải rời cung cấm đầy vất vả và nguy hiểm đã giúp cho Louis XIV hiểu thêm được sứ mệnh của mình trước các thần dân cũng như tầm quan trọng của một chính sách cứng rắn, kịp thời triệt tận gốc mọi mầm mống phản loạn. Louis XIV đã thực sự trở thành người lớn chính trong những trầm luân đó. Và ngày 7/9/1651, ông vua chưa đầy 14 tuổi đã tới phiên họp của Quốc hội Paris, nơi có mặt các đại thần và rất nhiều vị khách cao cấp, tuyên bố: "Các quý ngài, tôi tới Quốc hội của mình để tuyên bố với các quý ngài rằng, theo luật pháp vương quốc của tôi, tôi tự nhận lấy quyền trị vì. Tôi hy vọng rằng, ơn chúa, tôi sẽ làm việc đó theo đúng lẽ công bằng. Ngài Thủ tướng sẽ trình bày các dự định của tôi!".
Bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử nước Pháp. Louis XIV cai trị nước Pháp với một phong cách rất chuyên nghiệp, chuyên chế, không để cho những cận thần, dù đó là bất cứ ai, can thiệp vào chính sự. Ông luôn quan tâm đến các chi tiết, dù là nhỏ nhất, của các sự việc đang diễn ra và nhanh chóng nắm bắt được những xu thế chính để đưa ra những quyết định nhanh chóng, lắm khi rất bản năng nhưng lại là duy nhất đúng. Ông rất thực tế trong các chính sách quốc gia và rất không dửng dưng với danh vọng. Trong hồi ký cũng như các công văn của Louis XIV thường rất hay xuất hiện những từ như "Vinh quang của trẫm", "Danh tiếng của trẫm", "Vị thế của trẫm"... Đối với Louis XIV, vinh quang cá nhân, danh dự cá nhân của nhà vua liên quan chặt chẽ với quyền lực và sự phồn vinh của cả quốc gia. Ông có xu hướng đồng nghĩa mình với cả đất nước. Chính với Louis XIV, điện
Hơn ai hết, Louis XIV đã sớm hiểu rằng, một vị vua chỉ thực sự vĩ đại khi biết đứng trên vai những người khổng lồ. Và không có gì ngạc nhiên là, ông vua có "bàn tay sắt" trong công việc lại luôn tỏ ra rộng lòng với các tài năng, trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là các văn nghệ sĩ. Ông đã tập hợp được ở quanh mình những tên tuổi kiến trúc sư, họa sĩ, nhà thơ, kịch tác gia, nghệ sĩ... lừng lẫy nhất nước Pháp thời đó. Ông có chủ đích sử dụng đội ngũ đó vào việc phổ biến và tôn vinh nền văn hóa Pháp cũng như hỗ trợ cho chính sách an dân trị quốc của mình. Đối với những tài năng, Louis XIV thường là không quá quan tâm đến việc họ theo nghề gì và thành phần xuất thân ra sao. Một trong những "cận thần" của Louis XIV là Molière, "kịch sĩ", con trai một người bán thảm.
Được sủng ái cũng khổ
Molière sớm mồ côi mẹ, khi mới lên 10 tuổi (năm 1632). Đam mê nghề sân khấu, ông sớm phải trải qua nhiều nỗi đoạn trường của kiếp đời gió bụi. Phải quá tuổi tam thập, Molière mới bắt đầu được chú ý tới ở
Ở gần nhà vua nên Molière đã phải tuân thủ mọi lễ nghi của triều đình, kể cả trong việc ăn uống. Và đấy chính là tai họa đối với nhà viết kịch thiên tài.
Ngay từ nhỏ Molière chưa bao giờ được coi là một người có thể lực khỏe. Thú ăn uống xa hoa nhưng quá lắm trò nhiều vẻ của triều đình Pháp dưới thời Louis XIV đã càng khiến cho thể trạng của Molière trở nên suy giảm. Ăn ngon và nhiều không phải với ai cũng là điều hay ho.
Chưa tới tuổi 40, Molière đã mắc phải căn bệnh được coi là rất hiểm hóc thời bấy giờ, đó là bệnh viêm niêm mạc dạ dày mà ngày xưa hay được gọi bằng từ loét dạ dày. Ông liên tục cảm thấy những cơn đau khủng khiếp ở vùng bụng kèm theo những trận u uất, dằn vặt về tinh thần. Của đáng tội, tâm trạng "sớm nắng chiều mưa" của Molière còn bị trở nên nặng nề hơn bởi một lý do tình cảm nữa: Ông ghen tuông một cách bệnh hoạn trước những người hâm mộ thượng lưu của cô vợ trẻ trung xinh đẹp!
Louis XIV vô cùng lo lắng cho tình hình sức khỏe của người nghệ sĩ hài yêu quý. Nhà vua cho gọi những danh y lừng lẫy và giàu kinh nghiệm nhất của nước Pháp và châu Âu tới khám bệnh cho Molière. Các thầy thuốc thống nhất với nhau ở nhận định: căn bệnh của Molière không chỉ ở chế độ ăn uống mà ở cả yếu tố tâm lý. Đơn thuốc dành cho kịch tác gia vĩ đại là chế độ ăn kiêng cùng sự nghỉ ngơi và dạo chơi một mình ngoài trời. Cần phải biết rằng, ở thế kỷ XVII, Tây y còn ở mức độ phát triển rất thấp và các thầy thuốc thường chỉ biết độc một hai cách chữa bệnh. Ngay cả những bác sĩ từng tốt nghiệp Trường Đại học Sorbonne, học đường cao cấp duy nhất của nước Pháp có dạy dỗ sinh viên về nghề y, cũng thường chỉ biết cách rút máu để giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn.
Tất cả bệnh đều được chẩn đoán chủ yếu dựa trên việc nhìn màu nước tiểu. Mà dù có chẩn đoán bệnh gì thì việc chạy chữa cũng chỉ tuân thủ theo một hai cách làm quen thuộc. Của đáng tội, các đốc tờ người Pháp còn có riêng một "toa thuốc" đặc biệt so với các đồng nghiệp ở những nước châu Âu khác: đó là món "canh cải lão hoàn đồng" mà các quý bà thượng lưu rất ưa chuộng. Các thầy thuốc Pháp thời đó cho rằng, món canh thịt có váng mỡ có thể giúp người ta hồi phục lại sức lực. Nếu tra thêm vào bát canh thịt có váng mỡ đang nóng một chút rau thơm và một ít sôcôla thì có thể xua đuổi được tâm trạng u ám... Không ngẫu nhiên mà chính Molière trong hai vở kịch "Thầy thuốc bất đắc dĩ" và "Người bệnh tưởng" đã chế giễu chua cay nền y học đương đại.
Trong tình hình y học như thế thì bản chẩn đoán bệnh cho Molière cần được coi là một bước tiến bộ trong nghệ thuật chữa bệnh ở châu Âu. Nhà viết kịch cũng hiểu được điều này và chuyển đến ở vùng ngoại ô
Tuy nhiên, trở lại với cung đình, Molière lại phải ăn những món bổ béo của hoàng gia cùng rất nhiều gia vị cay chua. Những tiến bộ có được nhờ thời gian kiêng kị đã trở thành mây khói. Và ông đã qua đời khá sớm, khi vừa bước vào tuổi ngũ thập. Một người bạn thân của Molière đã ghi lại rằng, "một sợi gân trong ngực đã bị đứt và máu đã trào ra từ họng nhà viết kịch vĩ đại", ngay sau khi ông vừa kết thúc vở diễn "Người bệnh tưởng" mà trong đó, ông sắm vai chính. Từ lúc đang còn ở trên sân khấu, Molière đã cảm thấy cơn đau buốt nhói trong ngực nhưng không rời vào trong cánh gà. Nếu vở diễn bị bỏ dở thì các nghệ sĩ trong đoàn kịch của ông sẽ không được nhận tiền thù lao!
Những bạn diễn biết ơn ông và khênh ông về nhà rồi cho mời bác sĩ tới. Tuy nhiên, các bác sĩ, tự ái vì bị giễu cợt một cách chua cay trong vở kịch của Molière, đã từ chối chạy chữa cho ông. Ngay cả cha cố cũng từ chối không làm lễ Thánh cho Molière khi ông đã chết, vì sau vở kịch "Don Juan", nhà thờ đã coi Molière là kẻ vô thần đáng nguyền rủa. Sinh nghề, tử nghiệp là thế chăng?!