Tình thơ Huy Cận

10:10 10/06/2012
Ai đã nhìn ảnh Huy Cận thời trẻ thì đều phải công nhận đó là một thanh niên đẹp trai và hấp dẫn. Chính Huy Cận cũng tự nhận mình như thế. Nhưng các cô gái đến với ông thuở đó không phải vì ngoại hình của nhà thơ, mà vì... thơ!

Khi đã ở tuổi ngoại bát thập, trong một lần dốc bầu tâm sự với chúng tôi, những phóng viên của Chuyên đề ANTG CT, nhà thơ Huy Cận đã tiết lộ: “Tình yêu của tôi cũng như tình yêu của nhiều người, không có cái gì đặc biệt. Có những cái tình yêu lâu dài, dai dẳng cho đến tận sau này. Cũng có những tình yêu ngắn ngủi và cũng có cả những tình yêu không thành. Tôi cũng may là có được nhiều tình yêu cho nên làm được thơ tình yêu nam nữ không phải là nguồn thơ duy nhất. Còn có tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên...”.

Cũng theo lời của Huy Cận, ông thực sự đã có trong đời “những cái tình yêu hấp dẫn...”. Một trong những tình yêu “hấp dẫn” như thế đã tới với ông năm 1940, khi tập Lửa thiêng chưa được in nhưng trên báo Ngày nay liên tục đăng thơ của ông. Những bài thơ đó đã làm nao lòng một cô gái và thế là Huy Cận liên tục nhận được thư tình, dù ở Hà Nội hay ở Sài Gòn, những nơi mà chàng sinh viên Canh nông này phải tới để học. Thư không ký tên nên Huy Cận không biết là của ai. Nét chữ như của con giai, mà giọng điệu lại như của con gái. Chẳng biết đâu mà lần! Điều gây ấn tượng nhất với ông là câu chữ trong thư, ai viết mà hơn 60 năm sau vẫn khiến ông phải trầm trồ: “Thư viết hay lắm, mê lắm, xúc động lắm!”. (Tiếc thay, trong kháng chiến chống Pháp, tập thư đã bị cháy mất, điều làm Huy Cận ngơ ngẩn tiếc). Không chỉ gửi thư, người không quen biết còn gửi cả áo len cho Huy Cận: “Có một hôm, tôi sắp sửa xách xe đạp đi học (Trường Canh nông hồi ấy là ở Bách thảo, gần Lăng Bác Hồ bây giờ), thì có một cái bưu phẩm gửi đến. Mình mở ra. Trời ơi! Một cái áo len rất đẹp.

Đằng sau cổ thêu một câu thơ của tôi trong bài Tình tự: “Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh”. Nhưng mà mình mở ra thì mặc không vừa, dù mình chưa béo như bây giờ... Thì mình cũng chả trách, vì đã bao giờ người ta ôm mình đâu, mà mình cũng đã ôm người ta đâu mà biết vừa hay không. Thành ra, áo thì rất đẹp nhưng mà phải gói lại cho vào hòm rồi lại xách xe đạp đi. Hôm ấy, trời rét nhưng mình cảm thấy ấm vô cùng”.

Cuối cùng, mùa đông năm 1940, duyên kỳ ngộ cũng đã giúp Huy Cận gặp lại được tác giả của những bức tình thư ấy, sau khi ông nhận được áo len vài tuần. Một hôm, ngõ Tân Hương (Tức Mạc bây giờ, nơi Huy Cận đang trọ học ở Hà Nội), bất ngờ được đón một vị khách nữ.

Huy Cận kể: “Hôm ấy, bỗng nhiên có một cô mặc áo trắng bằng lụa Hà Đông rất đẹp tự dưng xuất hiện. Cô ấy nói chuyện với tất cả mọi người nhưng trong đối xử có vẻ như hơi biệt đãi tôi. Thế là mình cũng đủ thông minh và đủ linh tính phán đoán rằng, thôi, chắc người này viết thư cho mình rồi. Cô ấy là sinh viên Đại học Y, học sau tôi một lớp, thua tôi một tuổi. Thế là hết buổi nói chuyện, cô dắt xe đạp ra về, thì tự nhiên cái chân tôi đi theo. Tôi xin nói là cái chân tôi đi theo chứ không phải tôi đi theo... Ra đến cửa ngõ, tự nhiên cô ấy dừng lại. Lúc bấy giờ, cô nói như thế này: “Anh có nhận đủ thư em không?”. Tôi bảo: “Có!”. Thế là cô lên xe đi, không kịp nói câu gì nữa. Cách đó mấy hôm, tôi nhận được một cái thư viết như một chỉ thị: “Chủ nhật tới, anh đến gặp em”. Thế là mình cứ ngoan ngoãn mình nghe thôi...”.

Và lần gặp gỡ ấy đã diễn ra thực cảm động, đủ để nhớ suốt đời. Hơn 60 năm sau, Huy Cận nhớ lại: “Hẹn 9 giờ, 9 giờ kém 10, mình đến đã thấy cô ấy cũng đứng ở đấy rồi, ở trước Trường Thú y, trên đường Bạch Mai. Bây giờ biết gọi nhau thế nào? Tiếng Việt Nam tài lắm, mình định gọi em nhưng mà chưa đủ tình cảm để gọi em, gọi nàng thì “Tự lực Văn đoàn” quá (cười), gọi cô thì lại khách sáo. Không cô, không nàng, không em thì phải gọi thế nào đây? Thế là mình bảo: “Đi đâu bây giờ?”. Đây là một câu không có chủ từ. Nhưng cô rất chủ động: “Anh đi theo em”. Thế là cô ấy lên xe đạp đi. Chỗ nào đường đông thì cô đi trước, mình lẽo đẽo theo sau; chỗ nào đường hơi rộng thì đi song song. Từ đó đi vào Thanh Xuân bây giờ đấy, trên đường vào Hà Đông thì dắt qua bờ ruộng đi vào một cái khóm cây, một cái rừng nhỏ, có một cái nhà thờ họ đạo nhỏ. Nói chuyện với nhau trên trời dưới đất, không đả động đến tình yêu.

Gặp nhau lúc 9 giờ, đi đến nơi 10 giờ, từ 10 giờ đến 12 giờ không nói đến tình yêu. Trước khi đi, cô ấy có mang theo bánh mỳ xúc xích. Đến 12 giờ, thì chuông nhà thờ đổ. Nghe chuông nhà thờ đổ, tôi cũng xúc động đấy nhé, mà chuông chùa cũng thế! Lúc ấy cô ấy hỏi: “Anh có thuộc bài hát cinema không?”. Tôi bảo có thuộc, để tôi hát cho cô nghe. Cô ấy bảo để em hát trước. Một bài hát rất hợp với cảnh chúng ta, một bài hát mà trong đó có một cái thôn nhỏ, một cái nhà thờ nhỏ, một buổi sớm mùa xuân. Cô ấy hát xong thì khóc nức nở... (Huy Cận hát: “Tình yêu ơi, ta thấy mặt em trong một sáng mùa thu... Tình yêu ơi, ta được thấy mặt em và cả lòng phản bội của ta...”).

Nói thật là, lúc bấy giờ tôi chưa đủ tình cảm, thế nhưng người ta hát vì mình, người ta xúc động vì mình! Tôi ôm cô ấy, xúc động, một hồi lâu. Rồi khi cô ấy hết khóc thì lại nói chuyện trên trời dưới đất, không đả động gì đến tình yêu, rất lạ!

Buổi chiều chúng tôi về theo đường Tàu Bay. Hồi ấy không có đèn đường mà cũng không có đèn dinamo (đèn lắp trên xe đạp - PV). Cô ấy mua hai thẻ hương, cô ấy cầm một, tôi cầm một trên tay để người ta đỡ đâm vào mình. Về đến chỗ Trường Thú y thì dừng lại, cô ấy gục vào vai tôi: “Thôi anh về!”. Tôi khóc. Buổi trưa cô ấy khóc, buổi chiều mình khóc. Tôi khóc thật, khóc nức nở. Tại sao tôi khóc? Tại vì tôi thấy mối tình ấy đẹp quá, tâm hồn trong sáng quá làm cho tôi khóc. Anh thấy cái tình có lạ không? Trong một hoàn cảnh như thế, tôi nói anh em thanh niên bây giờ các cậu không trong sáng bằng bọn tôi đâu, chúng tôi lãng mạn nhưng rất trong sáng. Bây giờ chỉ 5 phút, các cậu giải quyết hết (cười). Bọn tôi ngồi cả buổi sáng, đến 6 giờ chiều mới về mà vẫn chỉ êm ru thế thôi...”.

Có lẽ ký ức về buổi chiều hôm đó rất quý giá đối với Huy Cận nên sau hơn nửa thế kỷ ông vẫn nói về nó bằng sự hồn nhiên và chân thành hiếm thấy.

Về sau, Huy Cận đi theo cách mạng, còn người phụ nữ đó sang Pháp, làm nghề bác sĩ. Huy Cận từng không chỉ một lần tới Pháp công tác nhưng ông đã không tìm lại người xưa dù biết địa chỉ. Thi sĩ chỉ muốn giữ cho mình hình ảnh thanh tân một thuở, chứ không muốn chứng kiến dấu thời gian in trên gương mặt và tâm hồn người bạn cũ. Ông kể: “Sau này tôi đi hoạt động ở Paris nhiều lần, người ta cho tôi biết địa chỉ, số điện thoại phòng mạch của cô ấy ở miền Nam nước Pháp, chỗ đó đông khách lắm. Nhưng tôi đã không tới tìm lại. Tại sao ư? Tại vì cái tình ngày xưa nó đẹp như thế. Còn bây giờ thì hai ông bà già hết rồi, con đàn cháu đống  cả rồi (cười). Thôi cứ để cho êm đi cái quá khứ. Nhưng mà cô ấy thỉnh thoảng vẫn viết thư về cho một người bà con ở Hà Nội, bác sĩ Đặng Hiếu Chương. Anh Đặng Hiếu Chương bảo tôi, chị ấy vẫn hỏi thăm anh đấy. Bây giờ thì tôi tiết lộ được rồi: Cô ấy là người Bình Định...”.

Đôi khi những mối tình không tiến tới hôn nhân lại có thể làm cho ta lưu luyến suốt đời, cho tới tận ngày sau cuối của kiếp người... Khi chúng tôi theo thói quen tò mò của người đang còn trẻ, hỏi: “Cô ấy có đẹp không?”, thì Huy Cận đã trả lời: “Tôi nói rất công bằng. Cô ấy không xấu, không đẹp, nhưng mà xinh, có một cái duyên. Đẹp khác, xinh khác, nhưng cô ấy có một cái tâm hồn làm cho mình mê...”. Chúng tôi đã hỏi ông: “Bác có phải là một người đa tình không?”. Huy Cận đáp: “Anh đánh giá như thế nào thì đánh giá, nhưng qua cuộc đời thì tôi cảm thấy tôi đa tình. Đam mê...”.

Cũng phải nói rằng, ở tuổi quá “cổ lai hy” rồi, dù còn bồi hồi với quá vãng, nhưng Huy Cận vẫn rất yêu thương và trân trọng người vợ đang sống cùng ông. ông nói: Tôi có 2 đời vợ, đời trước là em ông Xuân Diệu, người vợ hiện nay vốn là một cô  giáo. Có  hôm bà ấy nói với tôi thế này: “Chỉ cần anh còn yêu em là được. Bây giờ nếu anh yêu ai thì yêu nhưng miễn đừng quên em”. Vợ tôi là một người rất có thẩm mỹ. Bà ấy không làm thơ nhưng bà ấy đánh giá thơ một cách rất thẩm mỹ. Bài thơ nào tôi làm xong tôi đều đọc cho bà ấy nghe. Có bài nghe xong thì bà ấy bảo, phải chữa chữ này, phải chữa chữ kia. Có bài thì bà ấy bảo, phải làm thêm chứ để thế này thì chưa xong đâu...”

Xử Nữ

Cao Bằng – mảnh đất địa đầu Tổ quốc với hơn 333 km đường biên giới giáp Trung Quốc không chỉ là nơi giữ gìn chủ quyền thiêng liêng mà còn là địa bàn có dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc đưa pháp luật đến với người dân vùng cao, biên giới không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành “chìa khóa” quan trọng để giữ vững an ninh trật tự từ cơ sở.

Mấy hôm nghỉ lễ, tôi lướt mạng xem năm nay “tình hình thế nào”, câu chuyện “bên này, bên kia” đã có gì khác trước, khi mà đất nước đã qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Chiến thắng 30/4/1975. Và thật buồn khi những giọng điệu ngược lối, trái đường vẫn tái diễn, những chiêu trò như “tưởng niệm ngày quốc hận”, “hội luận tháng tư đen” tiếp tục được các hội nhóm chống phá ở hải ngoại xoáy lại với các hình thức, tính chất, mức độ khác nhau.

Thời gian qua, Công an các đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh với  tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi. Trong đó, phòng ngừa, đấu tranh nhóm thanh thiếu niên tụ tập, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm giải quyết mâu thuẫn, gây rối trật tự công cộng.

Nhiều người chọn phương án trở lại TP Hồ Chí Minh trước lễ 1 ngày để tránh kẹt xe nên tối 2/5 dòng phương tiện từ các tỉnh đổ dồn về 2 cửa ngõ phía Đông và phía Tây. Một lượng lớn phương tiện được giải tỏa trong đêm, tuy nhiên đến chiều cuối kỳ nghỉ lễ (3/5) giao thông tại các cửa ngõ TP Hồ Chí Minh tiếp tục tăng nhiệt…

Từ nhiều năm nay, Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an các tỉnh, thành miền Trung cùng Công an và chính quyền các xã, phường phối hợp ngành đường sắt nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông (ATGT) đường sắt trên tuyến. Không chỉ đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, tăng cường xử lý vi phạm, lực lượng chức năng còn tập trung xóa bỏ lối đi tự mở, xây dựng hầm chui, thiết lập rào chắn hàng trăm đoạn – tuyến gần khu dân cư, xây dựng các mô hình tuyên truyền… Thế nhưng, tình hình trật tự ATGT đường sắt tại một số địa phương vẫn... "nóng".

Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam với tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước”, đã và đang có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự (ANTT). Đồng hành cùng những đóng góp ấy là dấu ấn bền bỉ, sâu sắc của lực lượng An ninh nội địa Công an nhân dân (CAND). 

Trong khoảnh khắc khó khăn, gian nan của cuộc sống đời thường, những chiến sĩ Công an tỉnh Sơn La lại lặng lẽ trở thành điểm tựa bình yên cho Nhân dân.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文