Điện Biên Phủ có người con lính Pháp tên Đăm
"Điện Biên Phủ sinh ra tôi. Tôi là con lai lính Pháp đấy. Bố tôi chẳng biết ở đâu, còn sống hay đã chết…? Người nào cứ hỏi thì tôi bảo vậy, tôi là người Thái Mường Thanh, tôi da đen, tóc soăn nhưng từ lúc trong bụng mẹ ra thấy nhà sàn và phía dưới là chập chùng đồi núi". Ông Lò Văn Đăm, 60 tuổi, ở bản Vẻ (xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) hồn nhiên kể chuyện đời mình.
Sinh ra từ Điện Biên Phủ
Đăm, trong tiếng Thái nghĩa là đen; cả bản, mẹ ông thấy "đăm" quá thì gọi luôn thế. Thì đấy, màu da như cây trên nương vừa cháy xong. Mặt đen, tóc xoăn tít là lạ.. người như nấp trong bồ hóng nhìn ra; chỉ nụ cười rất hiền, hàm răng trắng lóa, nổi bật. Người Mường Thanh gặp ông, biết ngay là con lai lính Pháp. Họ bảo, giải phóng Điện Biên cả nước được hòa bình, người Thái được ông Đăm.
Biết tiếng ông đã lâu, nhưng tôi cứ ngài ngại; bởi Điện Biên Phủ dù đã sắp 60 năm hết khói súng đạn bom nhưng khơi lại chuyện buồn biết đâu lại bị dắt tay xuống cầu thang. Trong ngôi nhà sàn hai gian hai chái lợp ngói đỏ, dễ đến mươi phút, tôi cứ ngài ngại lúng túng, xa gần không biết vào đề như thế nào…
Nhưng ngài ngại của tôi hóa ra thừa, nghe mấy câu rào đón "Hậu quả chiến tranh…", "Giải phóng Điện Biên rồi…",…, ông hiểu ý, bảo luôn: "Tôi là con lai Pháp đấy. Mẹ tôi hồi còn sống thường nói cho nghe, người già trong bản vẫn còn nhớ".
Ngược dòng kí ức xa mờ, ông kể (qua nhớ lời mẹ kể, người già kể) những câu chuyện lộn xộn, mẩu vụn bằng tiếng Thái xen tiếng phổ thông, tôi cố chắp nối, sắp xếp lại chuyện đời ông.
…Ngày ấy, Điện Biên Phủ có cô Lường Thị Đôi (mẹ ông), tuổi qua trăng tròn, đẹp người đẹp nết. Buổi trưa, buổi tối, trai bản đến nhà tẽ ngô, chẻ lạt cùng bố để được ngắm người tóc dài như suối, da trắng như bông đang dệt vải quay tơ. Đôi đi rừng, đi nương cũng "tự nhiên" có anh lấy củi, phát dọn giúp; đi suối lấy nước cũng có anh đi theo. Đôi chưa nhận ai chọc sàn, bởi đầu óc trong vắt như suối rừng chưa chảy về chuyện "ở cùng một nhà, nằm cùng một đệm".
Rồi chiến tranh ập đến. Như có một nơi khác đặt vào Mường Thanh. Máy bay kêu trên trời, thả xuống người Tây, súng ống, các thứ... Chẳng biết từ hôm nào các quả đồi, cánh đồng xanh tươi bị đào bới tung lên, lô cốt, dây thép gai hầm hào đâm nhức con mắt. Dân bản đêm đêm xì xào lo lắng. Người già cũng lo nhưng nói cứng, giặc Pháp nó đến đây, rồi bộ đội mình sẽ lên đánh thắng.
Mãi chưa thấy bộ đội lên mà bọn lính Pháp đã vào bản. Xì xà xì xồ, có người cao to, mắt xanh mũi lõ, có người da đen chỉ thấy răng cười. Có bọn đòi gà vịt; có bọn chỉ xem nhà sàn, khung dệt, mắt thích con gái.
![]() |
|
Ông Đăm với tài sản lớn nhất của mình. |
Dân bản sợ rồi cũng phải quen những người mới, không mời mà đến. Vẫn phải đi nương, ra chợ, ra "phố", vẫn bị gặp những người "xa lạ". Cô gái Lường Thị Đôi trong một lần như thế đã lọt vào mắt xanh của một người lính Pháp.
"Nó thích cô Đôi quá, chân theo vào bản, lên nhà. Nhiều lần, lần đi mấy người; lần đi một mình, nó nói tiếng Tây… gì gì, chỉ nghe được yêu yêu thích thích. Lâu lâu, bố mẹ, mọi người cũng hết sợ người khách đen như cột nhà cháy. Rồi một buổi nó mang cả người nói giỏi hai loại tiếng đến thưa chuyện lấy cô Đôi làm vợ. Bố mẹ cô Đôi bảo không được, nhưng nó cứ đến nhiều thì đành đồng ý. Tôi có biết nó, người trông hiền, nhưng quên tên rồi". (ông Lường Văn Lún, 93 tuổi, cùng bản, nhớ lại).
Lâu lâu, anh chồng người Tây mới từ ngoài đồi Lạng Chượng (đồi A1) vào nhà ải mắt (bố vợ). Nó đến, cười nói, chia chục cái bánh mì to tròn cho mọi người. Mọi người ăn thật khẽ, vừa nhìn người to cao màu đen, vừa xem cái bánh lạ. Có người giơ bánh lên, nhìn thấy đen trũi, bảo: Ô! Bánh "khỉ quai"! (phân trâu - tiếng Thái). Mọi người cười ồ, nó cũng cười.
Những tưởng "hạnh phúc", nhưng mấy tuần trăng sau, cô Đôi chẳng thấy "người đăm" đến. Dạo này Mường Thanh như lên cơn sốt; đạn pháo rung trời, mây đen mù mịt. Dân bản nơm nớp, không ai dám đi đâu nữa.
Một buổi tối, lính Pháp vào bản, mặt mũi bơ phờ, bảo: Phải đi xa, đi tiếp đâu thì chưa biết. Không chắc gặp lại nhau được nữa. Biết vợ có thai, nó khóc, rồi đưa cái giấy viết chữ, gói quần áo lính… dặn dò. Cảnh sinh ly tử biệt ấy chỉ nhoáng nhoàng như một giấc mơ.
Cuối năm ấy, cô Đôi sinh ra thằng Đăm. Hôm Đôi trở dạ, cả bản sợ kêu thét lên khi thấy thằng bé đen ánh, chẳng đỏ hỏn như trẻ thường. Bộ đội Lượng (sau giải phóng ở lại Điện Biên, đã mất) đỡ đẻ xong, phải giải thích mãi, không có ma rừng ma xó gì cả… mọi người mới tạm yên tâm.
Khi hỏi về vật chứng ngày ấy, ông Đăm nói: "Bộ quần áo lính đó, sau này bố dượng vẫn mặc, mãi không rách; cái giấy thì giấu đi. Hồi mẹ tôi mất (năm 1969), nó được chôn theo. Dân bản bảo, các thứ liên quan đến Pháp thì cho làm ma, không thì bị đi tù!".
![]() |
|
Ông Đăm chăm người vợ bệnh tật. |
Năm tháng xanh lên
Điện Biên Phủ giải phóng, cả Mường Thanh reo vui trong ngổn ngang bãi chiến trường. Rồi bộ đội, người đi đánh giặc tiếp, người ở lại xây dựng Điện Biên. Người Thái, người Khơ Mú, người Mông… chạy giặc khắp nơi, lần lượt trở về quê cũ, bắt đầu cuộc sống mới.
Mẹ kể, hồi ấy hai mẹ con ở ngôi nhà sàn bé tẹo. Cột chôn, gỗ tròn, mái gianh (anh em trong bản làm giúp). Năm Đăm lên hai thì có bố mới. Bố người Thái, không có vợ, thương yêu hai mẹ con. Hai người hoàn cảnh về ở với nhau, mẹ rất vui.
Bố dượng chả có phân biệt đối xử gì với thằng Đăm con lai. Có lần lớn lớn rồi, tôi hỏi bố, sao con lại da đen thế? Bố ôm tôi vào lòng bảo, người Thái có người cao người lùn, người đón (trắng), người đăm (đen)… con nói tiếng Thái, ở nhà sàn, con là người Thái.
Đăm có thêm ba em, một trai, hai gái; cuộc sống những năm tháng ấy cả Mường Thanh đều khốn khó. Nhà thiếu ăn hai, ba tháng, phải lên rừng tìm củ mài, rau dại là chuyện thường. May, hoàn cảnh thế, Đăm rất khỏe chả ốm đau gì. Lấy củi, chặt cây, vác gỗ… việc nặng có Đăm là chạy băng băng. Bạn cùng lứa với Đăm vẫn nhắc lại - Cái thằng "Côn tay hánh" (Người tây khỏe) cả Mường Thanh chả ai vật được nó.
Bản Vẻ, nhiều người vẫn còn nhớ… Lần hai con trâu húc nhau, mọi người hò hét, khua trống, đốt rơm trên đầu mà chúng vẫn dính liền, như điên như dại. Đăm đến, nắm sừng rồi gồng tay đẩy rời hai con ra, nhẹ nhàng như người ta đuổi con gà vậy.
Lần bản giết trâu ăn tết, con trâu đực biết sắp bị "lên mường trời" nên hết sức chống trả. Mấy thanh niên xúm vào, hò la vẫn không tài nào ghìm được cái đầu nó xuống. Lại phải nhờ đến người khỏe. Đăm chẳng nói chẳng rằng cầm phắt dây mũi, kéo ghì nó xuống. Loáng cái, con trâu đổ vật trong con mắt kinh ngạc của mọi người.
Chăm chỉ, giúp được nhiều việc khó cho nhiều nhà nên Đăm được nhiều ông bố bà mẹ thích được rể, con gái thích được chồng. Đăm chả biết, chỉ yêu cô Lò Thị Dóm vừa đẹp vừa hợp tính. Ở rể ba năm, đôi trai khỏe gái chăm có một con gái thì ra ở riêng. Tổ ấm bắt đầu từ ba gian nhà sàn cột tre mái gianh.
Đăm khỏe, chăm như con trâu nhưng gia đình vẫn đói. Những năm bảy mươi làm hợp tác xã, chia thóc theo công điểm, nhà Đăm vào diện nhiều công (200 công/vụ là thấp nhất) ăn dè một năm cũng bị đói ba, bốn tháng. Lại lên rừng, củ mài, nương sắn, nương ngô giật gấu vá vai… Vụ nào cũng đói nhưng như tất cả mọi người, Đăm chả biết buồn. Chỉ biết được làm, được nhiều công.
![]() |
|
Ông Đăm nghe ông Lún kể chuyện về bố. |
"Lần ấy, có mươi phút tôi được hẳn bốn công", ông Đăm nhớ lại. Hôm đó, đội đi nhận phân đạm của xã, chỗ ủy ban. Tôi đến sau, còn bốn bao… tôi đã xắp hai bao gánh lên rồi thì đội trưởng bảo… mãi không thấy ai đến nữa hay anh cố nốt đi, tôi ngồi đây trông thì gay. Tôi chả nghĩ gì, bảo ừ được. Nói thế nhưng lúc lên vai, cất bước mới thấy nặng quá. Nhưng cố một lúc thì quen, đi được. Đoạn đường từ ủy ban về bản Vẻ hơn cây số thấy dài quá, phải nghỉ ba lần. Một lúc sau, đội trưởng về thấy tôi ngồi hổn hển thì bảo luôn, hôm nay anh được bốn công vì bốn bao đạm hai tạ.
Cuộc sống cứ thế trôi đi. Bốn đứa con khỏe mạnh, cũng như bố mẹ chăm chỉ cố gắng mà cao nhất cũng chỉ đủ ăn, ốm đau hay việc lớn gì lại phải vay vay trả trả. Tận năm 2000, sau rất nhiều quyết tâm, mỗi vụ tiết kiệm một tí, cộng thêm vay ngân hàng 5 triệu đồng, ông Đăm mới làm được ngôi nhà sàn hai gian hai chái lợp ngói đỏ.
Cái ở, tạm gọi là khang trang, yên tâm; bởi con trai, con gái đầu đã lấy chồng, lấy vợ ở riêng. ở nhà chỉ còn một trai một gái cũng đã nghỉ học sớm (trai làm ruộng, phụ thuê máy xát; gái phụ vữa ngoài phố) vài năm nữa chúng lập gia đình là thanh thản tuổi già. Nhưng sự đời không theo đường thẳng thế…
Vợ ông, bà Lò Thị Dóm, sau bao nhiêu năm tần tảo khuya sớm thì một đêm, "Thấy ớ ớ, nhấc lên hết tiếng nói luôn". Bà bị tai biến mạch máu não, sau mấy lần từ bệnh viện tỉnh trở về, bệnh xem chừng càng thêm nặng. Bởi thuốc chữa trị chỉ quanh đi quẩn lại mấy bài lá rừng, xoa bóp chân tay. Tình thương yêu của chồng con không làm căn bệnh thuyên giảm.
Giờ bà bị liệt hoàn toàn nửa người bên phải, chỉ biết ư ư e e khi bày tỏ yêu cầu, cảm xúc. Ông và các con muốn chữa cho bà lắm nhưng ngặt nỗi… tiền đâu. Gia sản có thu nhập cộng hết lại là: Một con trâu 5 tuổi, nghìn mét vuông ruộng, bãi ngô vườn rộng hơn cái nhà. Nếu tính theo kiểu bản Vẻ (hơn trăm hộ, nhiều đói nghèo, cận nghèo) "không cho ốm đau, tai nạn… thì nhà tôi cũng khá". Ông Đăm cười như mếu, khuôn mặt trầm xuống...
Tạm biệt cha con ông Đăm, tôi cứ bị ám ảnh mãi bởi một mong muốn rất nhỏ của ông - "Bố muốn những người con lai lính Pháp ở Điện Biên gặp nhau một chỗ. Khổ nhiều, khó khăn nhiều thì nói chuyện cùng nhau sẽ vui lên". Giải phóng Điện Biên đã sắp 60 năm rồi, những người mang dấu tích chiến tranh rất đáng được quan tâm, chia sẻ của cộng đồng, trong đó có cả người Pháp


