Nghiệp võ của gia tộc Nguyễn Trần

16:24 02/07/2013

Trong thuật ngữ dân gian Việt Nam có một cụm từ rất đặc biệt, đó là “Con nhà võ”. Cụm từ này không những chỉ đề cập đến gia tộc mang truyền thống võ đạo mà bao gồm tất cả những người chọn nghiệp võ để đi theo suốt đời. Gia tộc võ sư Nguyễn Trần Diêu là một điển hình, một gia tộc có 4 đời theo nghiệp, đã mang võ thuật của người Việt ra khắp năm châu đồng thời cũng mang những tấm huy chương quốc tế danh giá về cho đất nước và làm rạng danh họ tộc Nguyễn Trần ở miền Trung từ năm 1945 cho đến nay.

Tiếp tôi tại nhà riêng ở ngã ba Lâm Anh, thuộc xã Tư Nghĩa, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng là võ sư Nguyễn Trần Diệu, ông là con trai đầu của võ sư Nguyễn Trần Diêu. Nhìn ông, tôi không nghĩ con người này là một võ sĩ lừng danh. Trên đường tìm đến tư gia, tôi hình ảnh ông là một con người gân guốc với đôi mắt tinh tường sát khí luôn trong tư thế phòng thủ, hoặc có giọng nói vang lên như sấm xem giới giang hồ như cỏ rác. Nhưng sự thể hoàn toàn ngược lại.

Trước mặt tôi là một người đàn ông ngũ tuần với dáng người cân đối, gương mặt phúc hậu và những câu chuyện về võ đạo nhỏ nhẹ đặc quánh tình người. Ngôi nhà riêng của ông cũng khiêm tốn như chủ nhà, đó là một ngôi nhà cấp 4 không có dáng vẻ bề thế nếu so sánh với những đại gia ở xung quanh. Trên đường về Cát Tiên, quê mới của ông, tôi đã nhìn thấy những ngôi nhà sang trọng được đặt phía trước là cặp hổ tạc bằng đá đang nhe răng như sẵn sàng tấn công, như muốn thể hiện quyền lực theo kiểu rừng rú hoang dã.

Lúc tôi đến, mùi hương trầm từ trong tư thất của ông tỏa ra như mang theo sự kỳ bí hồn thiêng Đại Việt. Trên bức tường chính diện treo một chữ “Nhẫn” viết theo kiểu thư pháp, bên phải là một tủ kính hình chữ nhật khoảng 2x1m đầy ắp các huy chương đồng, vàng có thể đến gần cả 40 chiếc. Phía bên trái là một dãy đao kiếm như một hàng rào giậu ở nông thôn được che chắn bằng thanh sắt.

Nhìn những tấm huy chương quyền thuật mang nhiều kiểu dáng và ngôn ngữ khác nhau đã tự nó minh chứng bề thế của một gia tộc. Ở Việt Nam một đất nước luôn đối đầu với giặc ngoại xâm, nhà nước tặng thưởng huy chương cho người có công nhiều đến mức trở thành bình thường. Nhưng trong nghề võ, bất kỳ võ sĩ nào giành được huy chương quốc tế đều phải trải qua sự dày công khổ luyện không những về thể lực mà còn về chiến thuật giao đấu như: Thân pháp, thủ pháp, cước pháp, nhãn pháp, bộ pháp, trí pháp và tuệ pháp nữa.

Vậy điều gì đã hình thành tố chất một võ sĩ hiên ngang trên đấu trường như ông Diệu lại hiền lành nhỏ nhẹ và khiêm tốn đến thế! Có lẽ là võ đức. Nghề võ cũng giống như ngành Y hay người làm chính trị chữ “Đức” bao giờ cũng được đặt hàng đầu, vì đó là công việc liên quan đến sinh mạng con người, đến sự tồn vong của một dân tộc.

Võ sư Nguyễn Trần Diệu sinh năm 1959 tại Quảng Ngãi con trai đầu của võ sư  Nguyễn Trần Diêu. Ông Diêu theo nghề võ trước năm 1945 là đệ tử của chú ruột mình là ông Nguyễn Trần Tiếp, một trong những cây cổ thụ trong làng võ Việt Nam ở thập niên 40 tại miền Trung.

Thế hệ thứ 2 - Võ sư Nguyễn Trần Diêu. Thế hệ thứ 3 - Võ sư Nguyễn Trần Diệu.

Trải qua nửa thế kỷ từ thời ông nội đến cha đã khai sáng nên võ sử của dòng tộc Nguyễn Trần. Đến thế hệ thứ ba, ông Diệu mở đầu cho những trận giành giải toàn quốc trở thành vô địch ở tầm võ sĩ hạng gà. Đến đời thứ tư là võ sĩ Nguyên Trần Duy Nhất sinh năm 1989 tại Lâm Đồng, là con trai đầu của võ sư Nguyễn Trần Diệu đã và đang viết thêm trang sử mới cho dòng tộc ở tầm quốc tế.

Có lẽ trong họ tộc này, Duy Nhất mang về cho đất nước nhiều huy chương vô địch thế giới từ các đấu trường Thái Lan, Indonesia, Nga… ở hạng long (từ 57 đến 60kg). Tài năng của Nhất ngoài tố chất của dòng tộc còn là sự phối hợp của hai trường phái  khác nhau. Mẹ của Duy Nhất là võ sư Minh Ánh Ngọc, bà Ngọc sinh năm 1963 tại Nha Trang là hậu duệ của võ sư Minh Cảnh đệ nhất quyền anh Đông Dương vào thập niên 40.

Duy Nhất đứng thứ 2 từ trái qua.

Võ sĩ Ngọc Ánh có lối đá liên hoàn cước rất nguy hiểm. Thời con gái, bà đã tham gia hạng chục trận đấu đến khi không còn đấu thủ ở hạng cân của mình, rồi kết hôn với võ sư Nguyễn Trần Diệu trở thành cặp vợ chồng võ sĩ có danh hiệu tại Việt Nam thời bấy giờ. Nguyễn Trần Duy Nhất là phiên bản của hai người. Nhất thừa kế món quyền đánh cận chiến cấp tập của bố, lối đá liên hoàn cước của mẹ và món chỏ tấp, chỏ chặt của ông nội. Trong nhà những vòng đai to bề thế dành cho vô địch quốc tế đều là của Nhất. Tuy nhiên trong đời thường Nhất hiền lành, nhã nhặn khiêm tốn cũng giống như cha mẹ.

Trước khi tìm đến nhà Võ sư Diệu, tôi vô tình đọc được bài viết về một gia đình nghề võ từ Tạp chí Langbian Lâm Đồng. Chuyến viếng thăm này, tôi may mắn gặp được 3 thế hệ từ thầy Diêu đến vợ chồng võ sư Diệu và cháu Nguyễn Trần Duy Nhất. Tôi đã mang hết những tư liệu của gia tộc Nguyễn Trần “đặt trên bàn” với mục đích tìm hiểu con nhà võ mà trong đời chưa có duyên gặp gỡ.

Có lẽ đã lâu rồi không ai nhớ đến ông, nên khi gặp được người lạ tìm hiểu về dòng họ mình đã làm thầy Diêu bật khóc. Tôi không biết ông khóc vì vui hay nhớ đến một thời oanh liệt của mình. Ở tuổi 80 nhưng vị võ sư già còn minh mẫn, ông đau đáu nhớ về thời trai trẻ, một thời vang bóng ở xứ xở miền Trung. Cụ Diêu giã từ nghề từ sau năm 1975 để dành phần lớn thời gian dạy dỗ con cháu về võ đức của gia tộc.

Ông vừa lau nước mắt, chậm rãi cho biết: “Việc duy trì nghiệp võ cho một gia tộc thật sự không phải dễ dàng, vì nghề này ngoài võ thuật buộc phải tập luyện, còn phải thường xuyên trau dồi tâm đức. Nếu không làm thế, qua đôi lần chiến thắng tưởng mình giỏi hơn thiên hạ, sẽ ngã sang “tà đạo” là tự mãn, tự kiêu, lao vào tửu sắc hoặc biến thành kẻ bảo kê hay đầu gấu cho nhóm người xấu.

Người thầy dạy võ phải trải qua một quá trình tuyển chọn môn sinh nghiêm ngặt để truyền nghề, nhiều khi cả dòng họ không chọn được ai vì thiếu Đức và Nhẫn, võ thuật không chỉ học về kỹ năng cận chiến mà còn là nghệ thuật và nhân văn nữa. Chính vì thế người ta gọi là võ đạo, không ai gọi bóng đá đạo hay quần vợt đạo bao giờ.

Như vậy võ học suy cho cùng có hai phần là thuật và đạo. Thuật chỉ để giúp người ta biết võ, còn đạo mới đưa con người biết võ mà hành võ. Ví dụ uống trà là nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và mang những nghĩa cử thanh cao uống trà kết bạn, giúp ích cho xã hội thì đó là trà đạo.

Bàn về tính nhân văn của võ thuật, người Việt khác với người Nhật. Người Nhật đến với võ đường với mục đích cao quý là học tập và rèn luyện cái đạo trong võ học, các đòn thế chỉ là thứ yếu. Trong khi ở xứ mình phần lớn các cháu đi học võ để muốn hơn người, có khi vì bạn bè rủ đi cho vui… Chính vì động cơ không trong sáng ấy, nên chỉ vài tháng hoặc đôi ba năm đã bỏ cuộc, khi người học chưa đạt đến tầm hiểu biết về chính đạo sẽ rất dễ bị rơi vào “tà đạo”.

Người theo nghiệp võ phải thuần thục về tâm pháp và nghiêm túc thực hiện Tín - Nghĩa - Hiệp – Dũng, hay nói cách khác, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính càng khiêm nhường, thích sống lặng lẽ, không phô trương, không đánh người “dưới ngựa”, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.”

Ông võ sư già xin lỗi tôi quay sang thủ thỉ với con cháu ông như nói với chính mình: “Gia tộc ta đã có 4 dời theo nghiệp tổ, gắn bó với nghề cả trăm năm. Ngày xưa sư tổ đi buôn bán đường dài nên học võ để phòng thân, rồi mở lò dạy. Đến đời của cha thượng đài giành vô địch vùng miền, đời thằng Diệu (võ sư Nguyễn Trần Diệu) giành được vô địch toàn quốc, đời thằng Duy Nhất giành vô địch thế giới.

Sau này nếu cha có qua đời các con phải cố giữ cho được đạo nhà, người có nghĩa khí là người trọng nghĩa khinh tài, tài ở đây là có nghĩa là tiền tài danh vọng. Nếu các con luôn nghĩ mình tài giỏi xem thường thiên hạ hoặc chạy theo tiền bạc sớm muộn gì cũng rơi vào tà đạo. Đến ngày giỗ tổ, hương hồn của cha cũng không dám về dự, vì chính các con đã làm hoen ố dòng tộc mà họ Nguyễn Trần đã xây dựng cả trăm năm”.

Tạm biệt gia tộc có 4 đời theo nghiệp, ra đứng ở ngã ba mang tên nhà thơ Lâm Anh tại Cát Tiên, một huyện lỵ mang nhiều chứng tích huyền thoại về đô thị tôn giáo của người xưa.

Trên đường về, tôi cứ ám ảnh gia đình võ sư Diệu - Ngọc, những con người có cuộc sống bình dị ở vùng nông thôn này lại góp phần làm rạng danh đất nước, trong lúc kinh tế gia đình vẫn chạy theo phương trình cơm áo từng ngày, cuộc sống vẫn giật gấu vá vai. Nhưng trong gian khó khó ấy, họ vẫn theo nghiệp tổ, vẫn cố hết sức mình để tất cả các con theo hệ đại học chính quy.

Tôi mong thế hệ thứ 4 này sẽ trở thành tài sản quý hiếm quốc gia, tiếp tục giữ đạo nhà để kế thừa tinh hoa của họ tộc đã một thời vang bóng

Trần Đại

Sau ba ngày đầu năm, thị trường hàng hóa cả nước trong ngày Mùng 4 Tết Bính Ngọ 2026 đã dần hoạt động trở lại. Nguồn cung được tăng cường, hệ thống phân phối mở cửa đồng loạt, sức mua ở mức vừa phải nên giá cả nhìn chung ổn định, không có biến động bất thường.

Khi những cành đào trước ngõ vừa hé nụ, khói hương trầm ngày Tết còn vương trong sương sớm, thì ở nhiều trụ sở Công an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, một ca trực mới đã bắt đầu. Không pháo hoa, không tiếng chúc Tết rộn ràng, thay vào đó là ánh đèn phòng làm việc xuyên Tết, là tiếng bàn phím gõ nhịp đều đều, là những dòng dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác đến từng chi tiết. Với lực lượng Công an Thanh Hóa, Tết không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là “thời gian vàng” để tăng tốc, hoàn thiện mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm quyền lợi thiết thực nhất cho nhân dân.

Những ngày Tết cổ truyền hầu như ai cũng mong được trở về bên gia đình, quây quần trong hơi ấm sum vầy nhưng với người chiến sĩ mang sắc phục Công an nhân dân ở xã Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá lại là thời điểm gác lại niềm riêng để bảo đảm an ninh trật tự (ANTT). Với họ, mùa xuân chỉ thật sự trọn vẹn khi từng con ngõ bình yên, từng mái nhà an vui; khi không còn những tiếng thở dài, lo âu trong khoảnh khắc giao mùa…

Ngoại hình “chuẩn người mẫu”, bộ vest đen lịch sự, cặp kính đen cùng phong cách đầy… lãng tử khi xuất hiện cùng dàn xe chuyên dụng của lực lượng Cảnh vệ CAND khiến Trung uý Phùng Thế Văn trở thành hiện tượng đặc biệt được quan tâm trong dịp đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (A80). Nhưng có lẽ, đến thời điểm hiện tại, vẫn ít người biết tường tận về người lính đặc nhiệm trẻ vẫn được cộng đồng mạng, nhất là người trẻ ví von là “soái ca Cảnh vệ” A80 này.

Xuất cảng Cam Ranh vào ngày 6/1/2026, khi chuẩn bị diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và đón xuân Bính Ngọ. Đoàn công tác chúng tôi cùng Cục Tuyên huấn, Bộ Quốc phòng và Lữ đoàn 146, vùng 4 Hải quân trên chuyến tàu 571 dịp này chứa đựng ý nghĩa lịch sử thiêng liêng và xúc động.

Lễ chùa, du xuân đầu năm là nét đẹp văn hoá mỗi dịp Tết đến xuân về. Người dân Thủ đô và du khách đến Hà Nội Tết năm nay bất ngờ nhận thấy có nhiều đổi mới tích cực, mang lại sự tin tưởng và an tâm cho du khách. 

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文