Người gánh nước thuê ở "vương quốc chuối"
Ông là con trai thứ tư của công chúa Tân Phong (con gái vua Dục Đức). Sau ngần ấy năm, trải qua những biến cố vương triều, ông sống trong cảnh bần hàn, nghèo túng, mưu sinh bằng nghề gánh nước thuê ở vựa chuối lớn nhất Trảng Bom.
Người phu nước của vương triều nhà Nguyễn
Đường vào xã Thanh Bình (Trảng Bom - Đồng Nai) nhuộm màu xanh ngút mắt của chuối. Người ta ví nơi đây là "vương quốc chuối" quả không sai. Chuối có ở khắp nơi, trên triền đồi, hai bên lối đi, chuối trổ buồng vịn cong thân cây. Ông xuất thân trong nhung gấm lụa là, lại là dòng dõi vua chúa triều Nguyễn nhưng gần 40 năm qua, dân tình chỉ biết đến ông là người gánh nước thuê lâu năm nhất ở khu vực Đồng Nai. Ông tên đầy đủ là Nguyễn Ngọc Đương (tên thường gọi Mười Đương, 89 tuổi).
Chiều nhập nhoạng tối, trên con đường hẻm đất đá lổn nhổn, ổ gà ổ vịt loang lổ từng bãi, bóng người đàn ông còm cõi cót két đôi quang gánh về nhà. "Ổng Mười Đương đó, chắc vừa đi gánh nước", một người dân chỉ cho chúng tôi biết. Bao nhiêu năm ở đất khách quê người, đã có một vài âm từ xứ
Mười Đương sinh ra tại Thừa Thiên - Huế. Ông là con trai công chúa Tân Phong (con gái vua Dục Đức, em ruột vua Thành Thái, vị Hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn). Thời gian và những binh biến thời cuộc, ông là một trong số ít người thuộc dòng dõi quý tộc hiện nay vẫn còn sống.
Ông kể: "Năm 1907, mẹ tôi được gả cho con trai thứ tư của Thống đốc Bắc Kỳ Nguyễn Hữu Độ. Bà sanh được 5 người con, tôi là con thứ 4. Sau ngày vương triều suy vong, anh em tôi lưu lạc mỗi người mỗi ngả, chẳng biết ai còn ai mất".
Ông kết duyên với người con gái xứ Huế tên Nguyễn Thị Bé có nét đẹp đằm thắm, đoan trang. Bốn đứa con chào đời, cuộc sống hai vợ chồng nghèo túng. Cái nghèo đi với cái khó, lại gặp phải vụ hỏa hoạn, thế là xong, tất cả biến thành tro.
Năm 1978, gia đình nhỏ dắt díu nhau đến vùng kinh tế mới Đồng Nai. Nơi đất khách, vốn liếng không có, một cục đất chọi chim cũng không, vợ chồng ông mượn đất cất nhà gần một nông trường cao su ở tạm. Không tiền, không nghề nghiệp, ông Đương và vợ chọn nghề gánh nước thuê.
Khi bà Nguyễn Thị Bé còn khỏe thì hai vợ chồng cùng gánh nước. Đầu mối của họ là tiểu thương ở khu chợ gần nhà và chủ đồn điền cao su, các vựa chuối cần nước tưới cây con. Mười Đương bồi hồi: "Xa quê hương, vợ chồng tôi buồn dữ lắm mà không biết mần răng. Đến mảnh đất này rồi, cũng phải ráng làm để bốn đứa con có cái ăn, cái mặc. Mỗi lần gánh nước ở thời điểm đó cũng chỉ được 3-5 hào, sau này mới được dăm đến mười ngàn. Cứ mỗi phuy nước phải 6, 7 gánh mới đầy. Cực lắm”.
![]() |
| Viên mãn cuối đời của vợ chồng ông Mười Đương. |
Đồ nghề phu nước của ông bà là đôi quang gánh và hai chiếc thùng được cắt ra từ những chiếc can cũ. Mó nước ở xa nhất phải cuốc bộ 3km, gần nhất cũng 1km. Cứ 4h sáng, vợ chồng ông dậy để đi gánh nước cho kịp buổi sáng họp chợ. Còn gánh cho chủ vựa cây thì vào buổi chiều tối, xong việc về tới nhà cũng phải 9 -10h đêm.
Đường xa thăm thẳm, trời tối mù mịt, người gánh nước thuê đội chiếc đèn pin trên đầu, le lói dọi thứ ánh sáng vàng vọt để biết đường mà bước. Bóng ông Đương lầm lũi giữa đường với đôi quang gánh như dính liền trên vai. Không ít lần bước trúng ổ gà, vấp phải cục đá ngã đập mặt xuống đất, chảy máu mồm máu mũi. Sau này, vợ yếu đi thì những ngày gánh nước đêm Mười Đương nhận hết về mình, để vợ ở nhà canh giấc ngủ cho con.
Gương mặt bà Nguyễn Thị Bé hằn rõ những nếp nhăn sau gần hết đời người gánh nước. Không kể nắng mưa, hễ ai kêu là vợ chồng bà lại quẩy gánh lên vai. Giá tiền cho mỗi quang gánh nước thất thường lắm, ai cho bao nhiêu thì lấy, không đòi hỏi. Nhưng bà con cũng thương, không ai chèn ép sức lao động của đôi vợ chồng già.
Cho đời còn một cái danh
Đời phu nước như bao nhiêu đời phu khác, đổ mồ hôi, sôi nước mắt thì cũng chẳng bao giờ thoát ra được cái nghèo. Mười Đương cũng vậy, nghèo khổ dường như là một lời nguyền. Niềm kiêu hãnh duy nhất của Mười Đương là mang trong mình dòng máu "phượng hoàng", cốt cách của bậc vương triều lẫy lừng một thuở. Ông tâm sự: "Trong thâm tâm, tôi luôn tự hào về các bậc tiền nhân của mình và tự nhủ với lòng phải sống sao cho xứng đáng với họ. Nghèo là cái số chứ không phải cái tội. Nghèo nhưng không bao giờ được hèn".
![]() |
| Giấy chứng nhận hiến xác của ông Mười Đương. |
Oằn mình gánh nước, cúi gằm mặt xuống đường mà đi, đôi lúc nghĩ lại cái thân thế của mình, Mười Đương cũng chạnh lòng. Vì thế, gần 40 năm ở xứ này, rất ít người biết đến lai lịch của người phu nước. Trong cái nhìn của dân bản xứ, gia đình Mười Đương là một mẫu người nông dân cả đời lao động cần lao, cả đời cam chịu.
Chắt bóp từ những gánh nước lúc đêm khuya, ông bà dựng vợ, gả chồng cho các con đâu ra đó. Dù vất vả sớm hôm nhưng ông vẫn khỏe tới mức chẳng bao giờ húng hắng lấy một tiếng ho. Đến khi ngoài 70 tuổi, tay chân chai sần không còn làm theo ý mình nữa, việc gánh nước thuê mới dừng lại. Sau khi giã biệt đôi thùng gánh nước, hai thân già héo hon cũng chẳng chịu ngồi yên. Hằng ngày, ông vẫn đều đặn thức dậy đạp xe hơn 2km cắt cỏ chăn nuôi bò. Còn vợ ông, tuổi ngoài 80 vẫn đi phụ việc cho quán ăn.
Sau bao nhiêu năm gánh nước thuê, đến năm 2004, gia đình Mười Đương thoát cảnh chòi lá khi được chính quyền địa phương tặng ngôi nhà tình nghĩa. Đó là căn nhà cấp bốn tươm tất, không có nhiều vật dụng đáng giá. Ông Mười Đương bước lại gần bàn thờ, cung kính vén bức mành nhỏ, đó chính là di ảnh mẫu thân của ông - công chúa Tân Phong và cuốn gia phả được ghi chú nắn nót, cẩn thận. Nét mặt ông sáng hẳn ra, ông chia sẻ: "Tôi an lòng lắm, phấn khởi lắm vì bàn thờ tổ tiên được sạch sẽ, không còn lo mưa gió tạt vào".
![]() |
| Ở tuổi xưa nay hiếm nhưng hai vợ chồng ông bà vẫn lao động quần quật. |
Còn một điều nữa, ông Mười Đương tự hào khoe với chúng tôi hai lá đơn tự nguyện hiến xác và hai lá thư cảm ơn từ phía đơn vị nhận xác. Ông bảo, đó chính là những thứ quý giá nhất mà ông đang có. Khi chết đi, ông không muốn thân xác của mình vùi chôn một cách vô nghĩa, đã về với cát bụi thì hình thức nào cũng giống nhau. Hơn nữa, ông muốn hiến dâng những gì còn sót lại của một dòng tộc vua chúa.
Ông giải thích thêm: "Đầu năm 2011, sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi hạ quyết tâm nói với vợ ý nguyện hiến xác cho y học. Cả hai vợ chồng tôi đều cùng hiến. Sau khi chúng tôi qua đời, thi thể sẽ được chuyển về Trường Đại học y dược TP Hồ Chí Minh. Tôi mong rằng sẽ giúp ích được việc nghiên cứu giải phẫu". Con cái lúc đầu phản đối kịch liệt, vì ở đây chưa có trường hợp nào hiến xác nên rất hoang mang. Mười Đương giải thích cho các con hiểu, phân tích lý lẽ khoa học và khẳng định quyết tâm của mình. Các con ông đã gật đầu đồng ý.
Ông lấy ra một chiếc CD được gói cẩn thận, ông mở lên cho chúng tôi xem mẩu phóng sự được đưa lên đài Truyền hình tỉnh. Nhà đài biểu dương việc hiến xác cao cả của vợ chồng ông. Đôi mắt ông ngấn lệ, quờ tay sang ngăn bàn lấy cây sáo trúc cũ kỹ, ông bụm miệng ngân lên giai điệu Tiến quân ca. Đây là bài hát ruột mà mỗi khi ráo mồ hôi sau những gánh nước, ông vẫn thường thổi cho vợ nghe.
|
Ông Nguyễn Văn Hưởng - cán bộ xã Thanh Bình (Trảng Bom - Đồng Nai): "Ở địa phương, ông Đương luôn được cán bộ và nhân dân quý mến bởi đức tính vui vẻ, quan tâm tới mọi người. Ông Đương xuất thân là dòng dõi vua chúa ngày xưa thì hầu như không ai biết, ông ấy cũng không kể ra. Mới đây, ông đến gặp chúng tôi nhờ hướng dẫn giúp ông thực hiện nguyện vọng hiến xác cho khoa học. Một người sống nghèo khổ nhưng muốn làm điều hữu ích ngay cả khi không còn sống trên đời này nữa thì đó là việc làm vô cùng cao thượng". Theo các tài liệu ghi chép thì vua Dục Đức sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852, là con thứ hai của Thoại Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng và bà Trần Thị Nga. 17 tuổi, Dục Đức được vua Tự Đức nhận làm con nuôi (vua Tự Đức không có con) và đặt tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân. Vua Tự Đức mất đã truyền ngôi cho Ưng Chân. Ba ngày ngồi trên ngai vàng, vua Dục Đức bị phế truất và giam cầm. Nhà vua đã bị bỏ đói cho đến chết vào ngày 6 tháng 10 năm 1883. Nhà vua có 19 người con, trong đó gồm 11 trai và 8 gái. Tân Phong công chúa Nguyễn Phúc Chu Hoàn (bát công chúa) là mẹ ruột của ông Nguyễn Ngọc Đương. |


