Có một nhà hàng "Cà phê nem Việt Nam" ở Uzbekistan
Ngày cuối cùng trong chuyến thăm Uzbekistan, nhờ có số điện thoại do một người bạn cung cấp, tôi chủ động điện cho vợ chồng chủ nhà hàng "Cà phê nem Việt Nam". Anh chồng là Nguyễn Xuân Hoà, còn chị vợ là Nguyễn Thị Thanh Hải. Sau khi nghe tôi tự giới thiệu qua điện thoại, vợ chồng anh Hoà - chị Hải đã vồn vã và đưa xe đến cổng khách sạn đón tôi về thăm nhà hàng. Đó là một ngôi nhà mặt tiền nằm trên đại lộ Sofiyski - một đại lộ lớn của Thủ đô Tasken.
Thay vì 2 chữ "nhà hàng" là một hàng chữ lớn "Restauran Cà phê nem Việt Nam" được thiết kế trên một tấm bảng điện tử cỡ lớn bắt mắt du khách. Cũng như nhiều nhà hàng ẩm thực của người Việt trên đất Việt, cách bài trí nơi đây không khác là bao. Chỉ có khác, đầu bếp nhà hàng là người Việt đưa từ trong nước sang, còn nhân viên chạy bàn là người dân bản địa. Món ăn thì 100% là món ăn với hương vị Việt.
Đại loại là buổi sáng, khách đến nhà hàng ăn sáng với món phở Hà Nội, hoặc là bánh mì ốp la, bánh cuốn Thanh Trì. Ăn xong, khách thưởng thức hương vị đậm đà của cà phê Việt Nam hoặc là ly trà sen được đưa từ trong nước sang. Còn buổi trưa và tối, các món ăn Việt xem ra khá phong phú. Ngoài món nem, được coi là món ăn đặc sản của nhà hàng, nơi đây còn phục vụ du khách với hàng chục món ăn Việt khác.
Theo chị Hải - chủ nhà hàng "Cà phê nem Việt Nam" thì khách đến với nhà hàng của chị thường xuyên nhất vào các buổi tối là những người dân bản địa, tiếp đó là các cán bộ, nhân viên đang công tác tại các sứ quán Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… Những vị khách này đặc biệt thích các món ăn Việt, nhất là "phở Hà Nội" và nem chả cuốn. Họ đến nhà hàng một vài lần rồi thành quen. Nhiều người hầu như tuần nào cũng có mặt ở nhà hàng. Ở Thủ đô Tasken, ngoài nhà hàng của gia đình chị còn một số nhà hàng khác cũng của người Việt.
Trong câu chuyện với tôi, chị Hải bảo: Chị sinh ra và lớn lên ở đất Hà Thành. Con phố san sát các quán cà phê vỉa hè Triệu Việt Vương đã từng gắn bó cả tuổi thơ của chị. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, như nhiều chàng trai và cô gái thời ấy, Hải được Nhà nước cho đi xuất khẩu lao động. Đến nước Nga, chị được đưa về làm việc tại một xí nghiệp dệt may ở vùng viễn đông Liên Xô. Đây là vùng có thời tiết rất khắc nghiệt, quanh năm trừ 3 tháng mùa hè, còn hầu hết là mùa đông giá lạnh.
![]() |
|
Những món ăn Việt tại nhà hàng “Cà phê nem Việt Nam”. |
Thời đó, chị kể: Làm việc quần quật cả tháng chị chỉ nhận được khoản tiền lương khoảng 200 rúp. Do vậy để có thêm tiền phụ giúp gia đình, ngoài thời gian làm việc ở xí nghiệp, chị và những người lao động Việt Nam phải tổ chức làm thêm như may quần áo bò, áo phông, áo gió… rồi đưa ra thị trường tiêu thụ.
Khi chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ, kéo theo là sự chấm dứt các hiệp định về xuất khẩu lao động buộc mọi người phải tự bươn trải. Nhiều người phải về nước trước thời hạn, riêng Hải thì tiếp tục trụ lại sinh sống ở đất người. Cuối năm 1990, trong một chuyến về thành phố Tasken, Thủ đô nước Cộng hoà Uzebekistan để đòi nợ, Hải không ngờ đã gặp người đàn ông của đời mình. Đó là anh Nguyễn Xuân Hoà, một chàng trai gốc Thanh Hoá, song lại lớn lên ở đất Hà Thành. Hỏi ra mới biết, Hoà sang Liên Xô sau Hải 2 năm (1985) theo diện đi học hệ giáo viên dạy nghề ở thành phố Tasken.
Cũng như Hải, sau khi Liên bang Xô Viết tan dã, Hoà ở lại Tasken. Gặp nhau, cặp uyên ương đã sớm nên vợ, nên chồng và quyết định cùng lập nghiệp tại Uzbekistan. Theo họ thì so với ở Liên bang Nga, cộng đồng người Việt ở Uzbekistan không nhiều, song nơi họ sống rất bình yên với những cánh đồng bông bát ngát; còn người dân thì thân thiện, khí hậu lại ôn hoà phù hợp với cuộc sống của người Việt.
Do vậy, sau khi tổ chức đám cưới tại Việt Nam, vợ chồng Hoà - Hải trở lại Uzbekistan làm ăn. Thời điểm này, cũng như ở nhiều nước Cộng hoà thuộc Liên xô cũ, Uzbekistan cũng gặp rất nhiều khó khăn, cả về kinh tế và xã hội. Không còn được hưởng chế độ học bổng của nước bạn, Nguyễn Xuân Hoà vừa đi làm, vừa đi học; còn Hải (vợ anh) sẵn có nghề may, chị quyết định chuyển hẳn sang nghề kinh doanh các mặt hàng vải sợi, quần áo.
Tích cóp được ít tiền từ những ngày lao động ở xứ người, chị bàn với chồng đầu tư vào mua một lô đất ở thành phố Hồ Chí Minh rồi thuê thợ xây dựng trên đó một xưởng may rồi thuê thợ may quần áo, sau đó gửi sang Tasken bán. Song từ năm 1995, kinh tế Uzbekistan chuyển sang nền kinh tế thị trường, thuế nhập khẩu tăng cao, vợ chồng chị quyết định nhập nguyên liệu và mở xưởng may tại thành phố Tasken.
Tại đây, sản phẩm làm ra được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường Uzbekistan và được người tiêu dùng, cũng như chính quyền nước sở tại đánh giá cao.
![]() |
|
Tác giả và gia đình anh Hòa ở Uzbekistan. |
Sau những thành công trong nghề may mặc, vốn là một phụ nữ Hà Nội đam mê chế biến và nấu ăn từ nhỏ, từ năm 2000 trở lại đây. Vợ chồng chị Hải quyết định đầu tư 200.000 USD để xây dựng nhà hàng ẩm thực với cái tên khá gợi cảm: "Cà phê nem Việt Nam". Để chinh phục các thực khách, vợ chồng chị đã cất công về nước tìm hiểu và tuyển lựa các đầu bếp giỏi, có tay nghề cao rồi đưa sang Uzbekistan chế biến các món ăn trong nhà hàng của chị.
Tại đây, như chị giới thiệu tất cả đều là món ăn Việt. Ngoài ra các món mang tính đặc sản như các loại nem chiên, nem rán, nem cuốn, nhà hàng phục vụ cả các loại bánh cuốn, bánh xèo, canh măng, cá hấp, tôm chiên… Nguyên liệu nhiều thứ như măng, miến, mộc nhĩ, thậm chí một số hải sản phải đưa tư Việt Nam sang. Còn một vài loại thực phẩm khác, vợ chồng chị khai thác ngay từ thị trường Uzbekistan.
Nhìn tấm biển hiệu, tôi hỏi: Tại sao chị lấy tên nhà hàng là "Cà phê nem Việt Nam"? chị Nguyễn Thị Thanh Hải nói: "Vợ chồng em muốn quảng bá ẩm thực Việt Nam, muốn đưa ẩm thực Việt Nam đến với vùng Trung Á; trước hết là các món ăn mà nhiều người nước ngoài đã biết tới như nem và phở Hà Nội. Còn đồ uống, nhiều người rất thích hương vị cà phê được trồng ở xứ mình. Nó vừa thơm, vừa đậm đà".
Theo chị thì thời gian đầu nhiều người dân địa phương khi thấy vợ chồng chị mở hàng với các món ăn Việt Nam đều ngạc nhiên. Song theo thời gian, nhiều người từ chỗ xa lạ đã đến nhà hàng thường xuyên. Họ còn tổ chức cả ngày sinh nhật, liên hoan, giao lưu gặp gỡ bạn bè tại nhà hàng. Đây cũng là nơi hội tụ của nhiều đoàn khách nước ngoài khi có dịp đến thăm Uzbekistan. Theo chị Hải thì công việc ở nhà hàng rất bận rộn và vất vả, dậy sớm, thức khuya; song bù lại nghề này, phù hợp với dân Việt mình ở đất người.
Để cập về cuộc sống của người Việt ở Uzbekistan, vợ chồng chị Hải cho biết: So với Liên bang Nga và một số quốc gia khác, người Việt ở Uzbekistan không nhiều, khoảng trên dưới 100 người. Tất cả họ là những người đến đây trong diện xuất khẩu lao động, sinh viên, nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Sau ngày Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu thay đổi thể chế chính trị, họ ở lại làm ăn. Sống và làm ăn ởã xứ người như chị Hải nói: Không phải người nào cũng ăn nên làm ra.
Một số người do chịu khó làm ăn, nhanh nhạy và có đầu óc đã trở thành những doanh nhân thành đạt ở xứ người. Tuy vậy cũng có một số người do thiếu tu chí, lười lao động thì gặp khó khăn. Mặc dù vậy, cộng đồng người Việt ở Uzbekistan lại rất đoàn kết và thương yêu nhau. Đến Uzbekistan, chỉ cần hỏi tên một ai đó trong cộng đồng người Việt họ đều nói vanh vách về nhau. Nhiều người lo làm ăn, có khi cả tuần không gặp, nhưng qua điện thoại, họ vẫn biết rất rõ về công việc, sức khoẻ… của nhau.
Trước đây, việc đi lại khó khăn, người Việt ở Uzbekistan ít có điều kiện về thăm quê, nay đường bay rộng mở nên nhiều người tháng nào cùng về nước. Sống và làm ăn ở xứ người, nhưng dường như những người Việt tôi đã gặp trong chuyến công tác vừa qua, ai trong số họ đều có cảm nhận: Đất nước luôn bên họ. Họ vui với niềm vui đất nước khi dành được nhiều thành tựu.; nhưng cũng rất buồn mỗi khi xem truyền hình thấy cảnh bão lũ, cảnh đồng bào ta còn phải đối đầu với bao khó khăn. Những thời điểm như thế, là người con của quê hương Đất Việt, họ cùng nhau tổ chức quyên góp tiền gửi về ủng hộ đồng bào vùng lũ.
Còn trong cuộc sống gia đình, hầu hết các gia đình người Việt đều gìn giữ nếp sống văn hoá Việt; từ việc nấu nướng món ăn Việt đến cách dạy dỗ con em họ. Sống và làm ăn ở xa Tổ quốc, ngoài việc chịu thương, chịu khó, khắc phục những khó khăn, dậy sớm, thức khuya, song ai cũng hiểu rằng, muốn trụ vững lâu dài ở xứ người điều trước tiên là phải chấp hành nghiêm luật pháp của bạn và làm tròn bổn phận trước cộng đồng. Khác với ở các nước Cộng hoà thuộc Liên bang Xô Viết cũ, cộng đồng người Việt ở Cộng hoà Uzbekistan hầu hết đều sinh sống và làm ăn ở Thủ đô Tasken. Họ coi trụ sở sứ quán Việt Nam ở Thủ đô Tasken là ngôi nhà chung của mình.
Theo đó, ngày lễ, ngày Tết, mọi người đều tập trung tại đây để nghe Đại sứ chúc Tết, thông báo tình hình trong nước, sau đó là biểu diễn văn nghệ với các bài hát Việt và liên hoan với các món ăn Việt. Dù là "rể Tây", "dâu Tây"… ai cũng phấn chấn và cảm thấy đầm ầm, hạnh phúc. Theo thông lệ, mấy ngày Tết, các cán bộ, nhân viên sứ quán phân nhau đến các gia đình người Việt chúc Tết rồi các gia đình toả đi thăm hỏi lẫn nhau.
Theo chị Hải thì cũng như Tết Cổ truyền ở trong nước, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả để thờ cúng Tổ tiên. Còn thời khắc mà người Việt ở Uzbekistan cảm thấy thiêng liêng nhất là Giao thừa. Nhờ có chương trình Truyền hình VTV4 mà cứ vào lúc Giao thừa, mọi người trong gia đình quây quần được hưởng hương vị đêm Giao thừa, được nghe Chủ tịch nước chúc Tết và gọi điện về trong nước để chúc mừng năm mới cùng bao điều ước vọng với những người thân trong gia đình, họ hàng thân tộc nhằm chia sẻ những niềm vui, hương vị ngày Tết.
Riêng nhà hàng "Cà phê nem Việt Nam" của vợ chồng chị Hải thì mấy ngày Tết còn là nơi hội tụ của bà con người Việt. Họ đến đây không đơn thuần để được thưởng thức món ăn Việt trong ngày Tết mà để gặp gỡ, giao lưu, kể cho nhau nghe về những niềm vui, nỗi buồn sau một năm vật lộn với đất trời. Vui có, buồn có song ai cũng ước vọng năm mới sẽ đưa lại cho họ nhiều điều may mắn và hạnh phúc nơi xứ người

