Có một "ông Tây" 20 năm làm dân phòng đất Việt
Khu phố 4, Phường 9, Quận 8, Tp.HCM, có lẽ là khu phố độc nhất vô nhị ở nước ta có một đội viên dân phòng là một người mắt xanh mũi thẳng. Đều đặn suốt 20 năm nay, khi công việc của một ngày lao động vất vả đã xong, “ông Tây” ấy lại cùng đồng đội đêm đêm lội bộ dọc mấy mươi cây số để tuần tra, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ cuộc sống bình yên nơi khu phố của mình.
“Ông Tây” sống cuộc đời bình dị, nhưng hoàn cảnh riêng thì có đủ cả “hỉ, nộ, ái, ố”, những niềm vui, hạnh phúc, nỗi buồn rất đời thường của một công dân Việt Nam...
Khi ông tây đi làm… “ôsin” và lành như đất
Người đàn ông này có cái tên rất Việt: Nguyễn Trưng. Nhưng ngoài cái tên ra, ông hoàn toàn mù tịt về bản thân mình. Ông chỉ nghe nói rằng mình sinh vào khoảng những năm bốn mấy, năm mươi... là một đứa con mang hai dòng máu cha Pháp mẹ Việt và có một ông anh ruột hiện đang định cư ở đảo Corse, nước Pháp. Bởi vì nhiều lý do, ông cứ gặng hỏi hoài mà mẹ ông - nay đã già, lại mắc bệnh tim nặng - không chịu nói. Thế nên, những hình ảnh quá khứ, kể cả bóng dáng người cha trong tâm tưởng ông chỉ mờ mờ nhân ảnh.
Một điều lạ nữa: Có bố là một người nước ngoài, nhưng không hiểu vì sao mẹ con ông lại phải sống trong sự cơ bần, kham khổ. Gia đình bốn miệng ăn gồm một bà ngoại lưng còng tóc bạc, một bà mẹ và hai đứa con trông cậy hoàn toàn vào gánh hàng rong của mẹ ông. Ông bảo hồi nhỏ nhà nghèo, ông chỉ cắp sách đến trường được một năm, một hôm mẹ ông nước mắt giàn giụa kéo cậu con trai mới tám tuổi đầu vào lòng thủ thỉ: “Trưng à, nhà mình nghèo, không có tiền. Mẹ khổ quá. Chắc không lo cho con đi học được nữa. Con nên nghĩ lại…”. Những câu mẹ nói với cậu con trai như nói với một người lớn tuổi. Cũng vì thương mẹ, ông đã quyết định rời trường học mà không biết mảy may luyến tiếc.
Năm 18 tuổi, lẽ ra phải đi quân dịch, nhưng khi khám tuyển thì không hiểu vì lý do gì mà ông bị đánh rớt. Ở lại nhà, không chữ nghĩa, không nghề nghiệp, từ đấy, ông cứ đi lông nhông nơi nọ nơi kia, hễ ai có việc gì kêu thì nhận làm để tự nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình còn nhiều khốn khó.
Thấm thoát mấy mươi mùa xuân đi qua. Đến nay, dù mái tóc trên đầu đã lấm chấm hoa râm, đã có một người vợ và một cậu con trai, nhưng về cơ bản thì ông vẫn là người không công ăn việc làm. Những người có dịp gần gũi ông như ông Hai Khánh, chủ nhà trọ ông đang ở, từng là cựu đội trưởng đội dân phòng của ông khi xưa, đều nhận xét rằng “ông Tây” rất “hiếu động”. Họ bảo ông thật thà quá! Nhưng được cái ai ai cũng quý ông.
Cũng có nhiều người nói ông khờ. Thứ nhất là do tính ông hiền, hiền quá. Ai có việc nhờ, kêu gì ông cũng nhận, ai nhờ ông cũng giúp. Ông không phải là người bất bình thường, nhưng hành động thì không giống người thường. Người ta nhờ ông làm việc này việc nọ, nhiều việc phải dùng sức mạnh chân tay khiêng vác, nhưng chỉ trả công vài ba ngàn đồng, ông cũng vui vẻ nhận lấy. Thậm chí chỉ cảm ơn thôi, ông cũng không ca thán điều gì.
Thứ hai, họ nói ông khờ vì có lẽ ông là “ông Tây” duy nhất... không biết xài tiền. ông Hai kể, chiều chiều, sau khi phụ giúp quán nước cho ông bà xong, “ông Tây” lại cùng bà vợ và thằng con trai mang tấm dò vé số ra bùng binh Phú Lâm rao bán. Ai bán bao nhiêu được nấy, riêng chỉ có ông là thu nhập thất thường. Khi thì hai ba chục, lúc năm mười ngàn, mà có khi chỉ một hai ngàn đồng vì có khi người ta mua mấy chục tấm giấy vò nhưng đưa ông chỉ có một tờ năm trăm!
20 năm thức cho dân khu phố ngủ ngon
Nếu số phận chịu mỉm cười, lẽ ra giờ này “ông Tây” có thể đang sống giàu sang ở nước ngoài. Khoảng hai mươi năm trước đây, người anh ruột duy nhất của ông đã được rước đi ra nước ngoài theo diện con lai, từ đó định cư luôn ở Pháp. Thi thoảng, ông anh này cũng có về thăm quê hương, nhưng không ngó ngàng gì đến ông, và ông cũng không lấy đó làm buồn. Mà cũng hay, bà con ở khu phố bảo, có khi nhờ éo le như vậy, nên hôm nay ở nơi họ cư trú có một “ông Tây” đi làm dân phòng. Bởi nói gì thì nói, bây giờ thì ông đã nổi tiếng rồi. Và nhiều người cũng không ngần ngại tếu táo rằng nhờ có ông mà khu phố họ mới trở nên nổi tiếng... Ông Ba Phong, tổ trưởng khu phố 4, khoe rằng “ông Tây” được rất nhiều người biết, từ dân khu phố cho đến tận Phú Lâm, ra cả vùng Chợ Lớn, ai cũng biết khu phố của ông có một “ông Tây” đã hơn 20 năm nay theo nghiệp dân phòng.
Ông Tây kể với tôi rằng, ông cũng không ngờ mình có thể làm người canh gác trật tự trị an cho khu phố lâu đến như vậy. Hai mươi năm trước, một buổi chiều ông đi chơi về, má ông kêu lại báo: “Có anh công an khu vực tới nhà kêu con vào đội dân phòng!”. Ông nghĩ, làm việc này vừa có tiền hộ thân, vừa có việc làm, nên gật đầu ngay, kêu má dắt đi. Và rồi từ đó, bao nhiêu biến cố gia đình đã trải qua, nhưng ông vẫn thiết tha gắn chặt với công việc này từ cái buổi chiều hôm đó tính đến nay đã hơn 20 năm.--PageBreak--
Đội dân phòng của “ông Tây” lúc đầu thuộc khu phố 5, phường 9, quận 8, còn nay đã sáp nhập lại thành khu phố 4, nên đường đi trực có xa thêm một tí. Lúc trước, từ cầu ông Buông chỉ đánh một vòng đến ngã ba Hoàng Lê Kha là xong, bây giờ khởi phát đi từ trụ sở đội qua ngã ba Bà Ký, đến bến Phú Lâm, rồi trở về nhà ông Hai Khánh, dưới chân cầu ông Buông, mới hết. Vì vậy, ông phải chịu khó thu xếp mọi việc cho hoàn tất từ rất sớm để đến trụ sở từ 10 giờ đêm cho kịp ca trực.
Ông Tây rất hồn nhiên khi kể về công việc của mình. Hai mươi năm qua, thời gian quá dài nên ông không thể nhớ hết mình đã tham gia truy bắt bao nhiêu vụ trộm. Từng cùng các anh em dân quân khu phố bắt nhiều vụ trộm, được nhiều bằng khen của phường, của quận về thành tích bảo vệ an ninh trật tự, nhưng ông vẫn không hề giấu vẻ hồ hởi như trẻ con khi diễn tả cái cảm giác bắt được trộm, gìn giữ cuộc sống bình yên cho người dân. Ông bảo ông rất thích công việc đang làm. Cứ mỗi lần làm được một việc tốt là ông lại thấy vui hơn, yêu đời hơn.
Gia đình và hạnh phúc đơn sơ
Một chuyện khác cũng làm cho mắt ông lấp lánh, đó là khi ông kể về hạnh phúc riêng của mình. Hồi thanh niên, ông trắng trẻo, mập mạp, đẹp trai chứ không đem đúa và khẳng khiu như bây giờ. Tuy nhiên, con gái đẹp trong xóm nhìn ông, cũng chỉ giữ thái độ “nhìn từ xa” chứ không người nào tiến tới. Mà ông thì tuy biết thế, nhưng lại loay hoay không biết làm cách nào để tỏ tình. Thế nên, những cô gái ông thích rồi cũng theo chồng và đi tìm hạnh phúc. Còn ông thì… Mãi đến tới khi bước qua cái tuổi bốn mươi, lần đầu tiên mới biết nói tiếng yêu.
Hồi đó, ban đêm ông làm dân phòng còn ban ngày thì ông làm cờ đỏ, bảo vệ trật tự kiêm quét dọn tại chợ Phú Lâm. Ông tơ bà nguyệt khéo khiến xui sao lại đưa ông lọt vào mắt xanh của cô Nguyễn Thị Bé, một người con gái quê tận xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cô Bé nhà nghèo, từ quê phải lên Sài Gòn làm công, phụ nạo dừa khô mướn, cho một bạn hàng quen biết. Đó rồi ngày ngày ông quét chợ, thỉnh thoảng ghé lại phụ hai chị em cô Bé bốc dừa từ xe xuống sạp hoặc từ chợ lên quầy. Thấy anh chưa vợ, chị chưa chồng, nên người trong chợ xì xầm, chòng ghẹo. Mà họ ghẹo ác thiệt, ghẹo riết đến một ngày... “ông Tây” phải ngỏ lời yêu và dắt cô về ra mắt gia đình.
Được một năm sau, đứa con trai của họ ra đời. Lúc mới sinh nó trắng như bông bưởi và cũng mập mạp, hồng hào y như bố ngày xưa. Nhưng rồi lớn lên, nghiệt một nỗi, nó cũng khờ khờ... y như bố. Chị Bé kể, “ông Tây” thương con lắm. Lúc có con, vợ chồng họ ra ở riêng, cất một cái chòi cạnh dòng kênh, anh làm dân phòng, chị ngày ngày đẩy xe chuối sáp, khoai lang ra đường tìm miếng sống. Những hôm chị về trễ, mỗi lúc đi trực, anh lại ẵm nó theo để dỗ dành.
Nguyễn Phú Khải, tên khai sinh của thằng bé Long, không biết rồi sẽ ra sao khi hiện giờ đã 14 tuổi đầu mà vẫn chưa biết chữ. Nó ham chơi chỉ thích đi lông nhông. Cha mẹ nghèo, nhà thiếu ăn, nên bây giờ thằng bé cao lêu nghêu, quặt quẹo. Mấy tháng trước, có cô sinh viên biết tình cảnh gia đình, tới đề nghị dạy học cho nó nhưng chỉ được đúng một hôm thì nó lại bỏ về nhà và tiếp tục… đi lang thang.
Trung bình mỗi đêm, “ông Tây” làm dân phòng được lĩnh 10.000 đồng; bà vợ ông bán rau và phụ giúp coi quán cà phê cho bà chủ nhà cũng được đôi ba chục, ngoài ra còn có lại thêm tiền bán tấm vé số mỗi chiều, thì cũng vừa đủ trang trải tiền ăn ở và sinh hoạt cho cả nhà. Riêng căn phòng thuê ọp ẹp hàng tháng chủ nhà chỉ lấy 200.000 đồng, Nghèo, nhưng gia đình “ông Tây” sống trong tình thương yêu, che chở của xóm phố.
Vẫn biết gia đình “ông Tây” chỉ là một phần hậu quả của cả hai cuộc chiến tranh do người Pháp và người Mỹ để lại trên đất nước ta. Nhưng hòa bình đã mấy chục năm rồi, ngẫm kỹ vẫn thấy thật thương cảm cho ông