Đội lân “cổ lai hy” trên quê hương Đồng Khởi
Phụ nữ, đàn bà mà múa lân hẳn đã là một chuyện lạ. Đặc biệt, nếu những người đó đã đến tuổi bà nội, bà ngoại rồi mà còn... múa được thì càng đáng lạ hơn. Ấy vậy mà cái đội lân lạ lùng, gồm toàn những bà má chiến sĩ, vợ thương binh, liệt sĩ, Mẹ Việt Nam Anh hùng này đã tồn tại 25 năm qua ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Đội lân “18 bà và 1 ông”
Mồng 6 tết Nguyên đán năm 1981. Hết thảy các thành viên đều thống nhất, đấy là thời điểm đội lân chính thức “đánh trống ghi tên” trước bàn dân thiên hạ. Gần một phần tư thế kỷ đã qua nhưng tất cả vẫn nhớ như in cái buổi chiều mồng 6 tết năm nào... Tại nhà ông Ba Phúc, anh ruột bà Trần Thị Phước, bà con lối xóm bu đông nghịt. Buổi ra mắt đội lân còn có tổ chức tiệc khoản đãi quan khách hẳn hoi - một buổi tiệc “cháo cò” đầy ắp “hương vị” mà đến giờ ai cũng nhớ. Đừng vội nghĩ “cháo cò” là... cháo nấu với thịt cò! Thật ra, đấy chỉ là cách nói vui của các má. “Cháo cò” đây chỉ là... cháo trắng, ăn với đường chảy (loại đường thùng hạng bét thời đó, bây giờ không còn thấy nữa!).
Lịch sử đội lân, đại thể, là như thế. Nhưng ít người biết, nguồn gốc sâu xa lại bắt nguồn từ một duyên cớ thật tình cờ.
Chuyện bắt đầu từ một đám giỗ vào những năm xưa, xưa lắm...
Hôm ấy, giữa không khí đám tiệc tại nhà một người dân trong xóm, để thay đổi không khí, một bà khởi xướng, lấy rổ xúc làm “đầu ông Lân”. Bà khác giựt tấm vải treo ngay cửa buồng làm “đuôi lân”. Có lân thì phải có... Địa. Một bà chụp chiếc gối độn nguyên vào bụng, giả làm ông Địa. Một bà nữa hứng chí chụp cây gậy dựng nơi góc nhà làm Tề Thiên Đại Thánh. Mấy bà còn lại quơ quàng nào thùng thiếc, nào nắp nồi, xoong, chảo... làm trống, làm chập chả đập chan chát động viên, cổ vũ. Tiếng cười đùa, hò hét náo động cả xóm...
Một điều khiến chúng tôi thắc mắc là sự hiện diện của một thành viên nam trong đội: ông Ba Cà Chất. Hỏi ra mới biết, chú Ba đã gắn với đội lân suốt từ khởi thủy đến nay. Chuyện là vầy: ông Ba vốn là chồng bà Bảy Rết, một thành viên của đội lân. Bản thân ông cũng không quá xa lạ với chuyện múa may này.
Các má kể, ông Ba tham gia kháng chiến từ trước cách mạng. Những năm 40 - 50, tình hình khó khăn, vùng địch chiếm đóng, bọn lính kín, công an mật giăng đầy, khiến việc họp mặt tổ chức cũng như tập hợp, tuyên truyền đồng bào gặp nhiều khó khăn. Qua mắt địch, ta nghĩ ra những hình thức tập hợp quần chúng sao cho có vẻ hợp pháp. Tổ chức múa lân vào những ngày lễ, tết là một trong những phương cách. Ông Ba được giao lãnh đạo một trong những đội lân cách mạng như thế. Năm 1954, ông gánh luôn nhiệm vụ ông bầu, kiêm “anh nuôi” cho đội lân.
Nhiều người vẫn nhắc hoài cái cảnh hai vợ chồng ông Ba đưa nhau đi họp lân. Rồi khi đội múa xong, phương tiện hành nghề hư hỏng, ông Ba lại lọ mọ xách về, cặm cụi vá lại. Những khi rảnh rỗi, ông lại ngồi tỉ mẩn ghép gáo dừa làm đầu quạ, những chiếc mặt nạ ông Tề để đội có cái múa tiếp. Bây giờ, tuổi gần 80, ông Ba vẫn thủy chung với đội. Chưa hết, với tất cả 4 người - gồm 2 vợ chồng và 2 người em - tham gia đội lân, gia đình ông Ba là gia đình có nhiều người tham gia đội lân nhất.
Đội quân tóc dài… múa lân, những kỷ niệm với “cô Ba Định”, và bạn bè quốc tế
Một điều đặc biệt là thành phần xuất thân của các thành viên đội lân đều... khác thường. Nói theo kiểu bà con nơi đây, “họ đều không phải là những tay vừa!”. Có người là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, có người là thương binh, còn lại là mẹ và vợ liệt sĩ.
Bà Bảy Giỏi chẳng hạn. Trước làm giao liên, từng bị địch bắt tù đày 40 tháng, nay là... thương binh hạng 3/4. Cô Tư Bạch Đằng, “O du kích nhỏ” của đường dây C210 ngày nào, cũng là thương binh. Cô Sáu Khiêm, thành viên Hội phụ nữ giải phóng, gan góc, không vắng một cuộc đấu tranh chính trị nào. Đi đấu tranh, bị lính đánh chết lên chết xuống mà cô nào có chịu... tránh đâu!
Má Năm Kiểng kể: “Hồi tham gia biểu tình ở Lương Hòa, bị lính ngụy đàn áp, “con mẹ này” - chỉ vào má Sáu Khiêm - dám há miệng cắn, nên tụi nó thúc báng súng đến tóe máu, môi mỏ sưng vù, gãy mất mấy cái răng".
Không phải ngẫu nhiên, khi có dịp nói về đội lân, các má cứ luôn miệng nhắc “Cô Ba” - nữ tướng Nguyễn Thị Định. Không lạ, khi mà “Cô Ba”, người nữ anh hùng, niềm tự hào của phụ nữ Bến Tre - Việt Nam, cũng là người Lương Hòa, cùng gốc gác quê hương với các má. Thâm sâu hơn, tình cảm với cô Ba còn là nghĩa tình của những người đồng chí, đồng đội. Chính cô Ba là người đóng góp không nhỏ đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của đội lân.
Theo lời kể, năm 1981, nữ tướng Nguyễn Thị Định về thăm quê, cùng đi có những đồng chí bạn bè quốc tế. Nghe phụ nữ quê mình biết múa lân pha trò, bà mời đến múa. Khi tiếng nồi niêu xoong chảo “lắc cắc, lùng tùng” vừa dứt, cũng là lúc bà nữ tướng và các má, các chị ôm nhau oà khóc nức nở. Bởi nào có xa lạ chi nhau! Họ chính là những đồng đội, đồng chí từng sát cánh che chở cho bà trong những năm chiến tranh khốc liệt. Những “ông Lân, ông Địa” trước mặt bà bây giờ, chính là những bà mẹ, những người chị đã bước ra từ đội quân tóc dài khi xưa, những người từng hừng hực khí thế xuống đường đấu tranh chính trị trong cuộc Đồng Khởi hừng hực khí thế cách mạng năm nào. Một cuộc hội ngộ cảm động trước sự chứng kiến của những người bạn quốc tế.
Theo hồi ức của các má, cũng chính vào dịp khai mạc Hội Xuân năm đó, cô Ba đã dẫn đầu đoàn lân, lên ghe lớn đi “lưu diễn” dài từ Lương Hòa lên tỉnh. Đến đâu, ghé nơi nào cũng được hoan nghênh nhiệt liệt. Năm đó, đội lân làm ăn bộn bạc!
Sự khăng khít giữa đội lân với cô Ba, về tình nghĩa, là cái gì đó rất vô hình. Thế nhưng, về mặt hữu hình, đến bây giờ, cái tình cảm đó còn thể hiện rõ nhất ở chính cái sắc phục có vẻ hơi khác thường mà đội lân đang mặc - chiếc áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ và chiếc nón tai bèo - các má bảo đó là ý hướng muốn giữ vững truyền thống đội lân như những ngày còn cô Ba. Bởi lúc sinh thời, cô Ba từng khuyên, khó khăn thế nào cũng ráng giữ đội lân, vì đó chính là truyền thống hào hùng của đội quân tóc dài năm xưa.--PageBreak--
Một chuyện nhỏ nữa cũng ít người biết, ngay từ những năm 80, danh tiếng đội lân đã vượt biên giới, lan ra tận nước ngoài. Năm 1983, một đoàn nhà báo người Đức đã sang Việt
Má Năm Kiểng kể chuyện vui, lúc quay tới phần xuất xứ đội lân, họ hỏi thời kháng chiến các má làm gì. Bất đồng ngôn ngữ, má Năm diễn tả bằng cách bất thình lình ngồi xổm xuống, chụp cây chổi dựng góc nhà đưa lên tì trên vai, nheo mắt, giương súng, đưa về phía ông khách cao lớn, thét “pằng pằng” (ý nói thời trước các má đều đi chiến đấu, giết giặc) khiến ông khách phải giật mình, rụt cổ, lè lưỡi, lắc đầu, chắp tay xá dài thán phục.
Chưa hết, thuở ấy, đội lân đã từng được giáp mặt nhiều quan chức ngoại giao cao cấp của đất nước
Chú Ba Chất kể: “Bữa đó, lễ tổ chức tại sân trung tâm xã. Người đông nghịt, sân khấu mở rộng xuống tuốt mé sông. Khi đội lân trình diễn, hai ông bà đại sứ này đứng lên vỗ tay suốt. Bữa đó, tui có bắt tay bông-giua ổng bả nữa!”. Má Hai Sánh thì khoe: “Hôm đó, toàn thể thành viên đều được ông đại sứ ôm hôn thắm thiết. Tới chỗ tui, ổng đưa tay giỡ cái đầu lân ra, dòm đầy cắc cớ, rồi đưa cái mặt toàn râu “hun” lên hai gò má làm tui... mắc cỡ và nhột muốn chết”!
Đội lân trường sinh bất lão
Mấy mươi năm qua, các thành viên đội lân giờ đều đã “đầu bạc răng long”. Tuổi tác như thế, nhưng thương hơn là hoàn cảnh từng người. Má Tư Lan, nhà nghèo, con cái ra ở riêng hết, chỉ còn má với cô con gái 32 tuổi rồi mà nuôi hoài không thấy lớn. Má Năm Phước, chồng hy sinh khi mới 27 tuổi, từ đó ở vậy nuôi 4 người con. Giờ con cái ra ở riêng, má thui thủi một mình. Má Tám Nuôi là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, có chồng và 2 con hy sinh... Song, khí thế chung đội lân không vì những nỗi buồn riêng mà ảnh hưởng.
Tác phong cách mạng vẫn luôn được các má phát huy trong mọi hoàn cảnh. Mỗi khi có việc, “ới một tiếng” tất cả đều có mặt răm rắp. Bây giờ, ngoài chú Ba Chất, đội lân còn có thêm một thành viên nam là anh Út Trí đỡ đần phần nặng nhọc. Một điều đáng mừng nữa, về phía gia đình, ai cũng động viên. Những khi họp đội, đi múa, các chú, các anh đều tranh thủ đưa rước các má “đi đến nơi, về đến chốn”.
Nghĩ mãi không biết kết thúc bài thế nào! Bởi e kết... là hết! Vả chăng, cũng do bị ám ảnh bởi cái cảm xúc khó tả mà các má đã gieo vào lòng chúng tôi qua những ánh mắt lạc quan, rạng ngời niềm vui và lời hát hào hùng tiễn đưa chúng tôi về lại Sài Gòn. Các má cứ ngân nga hoài câu hát: “...ta còn hành quân xa, ta còn hành quân xa!” như một lời hứa tiếp tục lên đường. Có lẽ, nhân dịp đầu xuân, xin mượn tiếng người xưa để gửi tới các má lời cầu chúc:
Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm thọ.
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.
Các má phúc mãn đường, các má nhé!