Giải mã về nơi an táng “Hùm xám Yên Thế”
Tại một thôn nhỏ ở xã Mai Trung (Hiệp Hòa, Bắc Giang) nơi ghi dấu cuộc khởi nghĩa Yên Thế bỗng phát hiện ra một ngôi mộ. Yểm trong mộ là một lá thư viết mực tàu đề rõ, viết năm 1913 (năm cụ Đề Thám bị sát hại) cảm khái chính về "Thế sự Hoàng Hoa" (Thám).
Chúng tôi được sự giúp đỡ của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bắc Giang, đã đích thân đem những con chữ ấy về Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhờ các chuyên gia hàng đầu về "bút lông - mực tàu" giải mã. Kết quả ban đầu: ở góc độ văn bản, những thông tin từ lá thư yểm là đáng tin cậy. Liệu đây có phải một lối nhỏ giúp các nhà nghiên cứu vén được những đám mây bí mật đã tồn tại gần một thế kỷ qua xung quanh cái chết của người Anh hùng Đề Thám?
“Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?”
Ông Trần Văn Lạng, Phó giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bắc Giang đã trực tiếp về hiện trường thu thập hiện vật liên quan đến cuộc “khai quật chữa cháy” kể trên.
Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh đã về tận thôn Tân Lập, xã Mai Trung tìm hiểu. Sự việc tương đối rõ ràng, hiện vật được chính quyền xã bàn giao cho Bảo tàng bằng văn bản hẳn hoi.
Chuyện bắt đầu vào ngày 24/12/2005, khi ông Nguyễn Văn Sử, người thường xuyên qua lại nhang khói trong đền thờ cụ Hoàng Hoa Thám (tọa lạc trên địa bàn thôn, có ảnh thờ Đề Thám, kiến trúc tương đối kiên cố) tiến hành trồng thêm một cây đại vào khu vực đền.
Đang đào hố thì ông Sử phát hiện thấy một cái liễn sành úp ngược, trong liễn có “kết cấu hiện vật” khá kỳ khu để bảo vệ một lá thư gấp làm tư viết bằng chữ nho, mực tàu, trên giấy bản. Ông Sử và bà con cùng ngỡ ngàng, họ liên tưởng ngay đến lá thư liên quan đến cụ Hoàng Hoa Thám. Bởi vì, tình cảm của dân thôn Tân Lập (cũng như cả nước) với những người anh hùng áo vải từng làm giặc Pháp “bạc tóc vì lo”, “mất ăn mất ngủ” trong suốt 30 năm ròng của cuộc khởi nghĩa Yên Thế thì chúng ta đều đã hiểu. Nhưng, điều đáng nói hơn cả, là: vùng Mai Trung, Hiệp Hòa đã có quá nhiều “sự tích” về sự lẫy lừng, hiển linh của cụ Đề Thám; mà lá thư chỉ là “giọt nước tràn ly”.
![]() |
|
"Hùm xám Yên Thế" Hoàng Hoa Thám và con cháu. |
Ngay cạnh khu vực vừa đào được “lá thư” là phần mộ có xương cốt của ai đó. Theo ông Nguyễn Đức Thành, Chủ tịch UBND xã Mai Trung thì ngôi mộ đó vốn là một ngôi mộ hoang. Song, căn cứ vào hệ thống sự tích truyền miệng, với những gò, đồi, ao, chuôm cụ thể mang tên cuộc khởi nghĩa Yên Thế (chuôm Yên Thế, gò Yên Ngựa) nên nhiều bà con có niềm tin sâu sắc rằng: phần “di cốt” kể trên đích thị là của “Hùm thiêng Yên Thế” - Hoàng Hoa Thám.
Ngôi mộ được sửa sang, lấp kín đất vào phần xương cốt thòi ra. Ngôi đền có ảnh thờ cụ Hoàng Hoa Thám được khói nhang, kính cẩn đặc biệt. Ông Sử có một niềm tin son sắt rằng, ông Lý trưởng của làng thời Pháp thuộc (cụ Lý Loan, tên thật Lý Văn Loan, chính là ông nội ông Sử) đã giao du tri kỷ với lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Thế Đề Thám.
Câu chuyện này đã được ông Sử kể, rồi ông Trần Văn Lạng viết lại trong một “thông báo” để các nhà khoa học “xem xét thêm cho tỏ tường” (từ ngữ trích nguyên văn), như sau: “...một lần vào dịp tết cụ Lý Loan lên đồn Phồn Xương (“trụ sở” của cuộc khởi nghĩa, thăm ông Đề Thám). Cụ Thám ra cổng đồn cùng bà Ba Cẩn (vợ cụ Đề Thám) và một số quân sĩ đón cụ Lý Loan. Hứng chí, cụ Thám ra đối:
Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả
Bà Ba Cẩn đối lại:
Gươm thần chờ đón ánh trăng soi
Cụ Đề Thám lại ra vế đối thứ hai:
Pháo nổ mừng xuân vang bốn cõi
Cụ Lý Loan đối lại:
Lời thơ chúc tết động Ba Kỳ.
Cũng vì do quan hệ đó mà khi thất thế mới có truyền tích cụ Đề Thám về ẩn thân ở Mai Trung. Theo ông Sử, chuyện thế nào chắc chỉ có cụ Lý Loan mới rõ”.
Nhiều người cũng truyền khẩu rằng, sau khi “vỡ trận” bị giặc Pháp truy lùng gắt gao, cụ Đề Thám cùng với người thân tín “cải thành người ăn mày rách rưới” về nương náu tại bản thôn với sự chăm sóc nghĩa tình của cụ Lý Loan (?). Sở dĩ cái chuôm nhỏ ở làng có tên là chuôm Yên Thế, vì “cụ hùm thiêng” thường ra đó tắm táp, nấu chí “giành lại giang sơn” mà mình đã vẫy vùng ngót 30 năm. Bộ xương trong ngôi mộ hiện nay, với những “gióng xương” rất to, có thể chính là xương của “vị hùm thiêng” bị sa cơ lỡ bước (?).
Với tất cả những thông tin truyền khẩu kể trên và việc đào được văn bản Hán Nôm viết về Thế sự Hoàng Hoa (Thám) khiến ai nấy đều hiểu là thơ viết cho cụ Đề Thám, yểm vào gần huyệt mộ cụ.
Thực hư thế nào xin nhường lời cho các nhà khoa học chuyên ngành công bố sau. Nhưng, dựa vào những chữ được viết trên văn bản Hán Nôm kể trên thì dường như khó có sự ngẫu nhiên nào lại “hợp tình hợp lý” hơn thế! “Thư” là lời ngợi ca chiến công kiêu hùng, cảm khái trước khúc bi ca vỡ trận sa cơ của cụ Hoàng Hoa Thám. Nếu đúng đó là thủ bút của cụ Lý Loan, thì các chuyên gia Hán Nôm cũng đã phải vỗ đùi khen cho "bồ" chữ của cụ, tạm phiên âm (theo tài liệu của Bảo tàng Bắc Giang):
- Cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận
Hậu thế nghìn năm ai biết không?
- Yên Ngựa nghỉ vào đây lòng đất
Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?
Một nghìn chín trăm mười ba
Tháng năm ngày mồng chín
Loan.
Có một sự trùng hợp kỳ lạ. Gò Yên Ngựa nằm kia, người tên là Hoàng Hoa Thám với huyền thoại chiến trường “da ngựa bọc thây” đã “cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận” cũng được dân thôn bản xứ truyền tụng từ nhiều năm nay! Theo lối sấm ký đó thì có thể câu thứ 3: thi hài cụ Đề Thám đã được nghỉ (táng) vào lòng đất gò Yên Ngựa (?!).
Cái ngày 9/5/1913 kia, nếu đem so với lịch sử thì cũng chỉ chệch so với ngày cụ Đề Thám bị sát hại ít ngày (cụ bị giết ngày 10/2/1913 - sẽ nói kỹ ở phần sau). Giặc giết, rồi bêu đầu cụ hay cụ đã chạy giặc về Mai Trung rồi mai danh ẩn tích đến lúc xế chiều khuất núi, hay thi thể cụ sau khi bị sát hại đã được người thân tín đưa về an táng tại đây? Rất nhiều giả thiết. Nhưng, nếu cứ hình dung, lá thư khóc và ngợi ca cụ Đề Thám được viết ngày 9/5/1913 rồi “yểm” gần mộ của cụ thì là điều không có gì khó hiểu. Còn chữ “Loan” ở bên dưới văn bản, sẽ được hiểu là chữ ký tên của ông Lý trưởng tên là Loan?
Khi phát hiện (theo ông Sử kể), thấy một chiếc liễn (lon) sành thời Mạc úp ngược xuống đất. Tuần tự xếp đặt theo sự úp ngược liễn, như sau: Trên cùng là đáy liễn; tiếp theo là lớp lá dầu đã khô. Tiếp đến là hai tờ giấy bản (chỉ một tờ có chữ, như đã trích ở trên) được gấp lại. Hai tờ giấy này được đặt trong lòng chiếc đĩa con phượng (thời Lê) và ốp chặt vào đáy liễn. Lá chèn xung quanh.
Tiếp đó là lớp cát khô, sau đó là lớp vữa (vôi + cát) chèn chặt lớp cát lại. Tiếp đến là 2 chiếc đĩa thời Nguyễn có ve lòng, một chiếc có hình 3 con cá chép, 1 chiếc có hình 4 con cá chép. Cả hai đều được trát vữa chặt để khỏi tuột. Khi phát hiện, các nhân chứng đã chụp ảnh hiện trường.
(Còn nữa)
