Lung linh tấm lòng thủy chung son sắt
Chiến tranh, đạn bom, kẻ thù, và cả cái chết như rào chắn khắc nghiệt giữa những trái tim yêu của những người chiến sĩ cách mạng. Tuy nhiên, hơn nửa thế kỷ đã qua, họ vẫn lung linh một tấm lòng thủy chung son sắt. Sự hiện diện và những câu chuyện đời tưởng mãi được vùi sâu chôn chặt lần đầu tiên được chuyển đến hàng trăm bạn trẻ trong chương trình "Những mối tình không thể chia ly" của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, TP Hồ Chí Minh ngày 29/7. Cả khán phòng rộng mênh mông đầy ắp những cánh tay lén đưa lên lau nước mắt. Những giọt nước mắt của người trong cuộc, nước mắt xúc động, khâm phục của người nghe, giúp con người vững niềm tin và thấm thía hơn giá trị độc lập, tự do của Tổ quốc…
Nhỏ nhắn trong bộ đồ hoa sậm, mái tóc đã bạc trắng theo thời gian, bà Lâm Thị Út Một (dì Ba Để) xuất hiện trước hàng trăm cặp mắt với câu chuyện về các cửa ải đời mình một cách bình thản như thể sau những tận cùng khổ đau, mọi phiền não chốn nhân gian đã không thể nào chạm đến bà được nữa.
Ngày ấy, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, như hàng ngàn người vợ trẻ khác, Út Một bịn rịn tiễn chồng là ông Phạm Hùng Vĩnh tập kết ra Bắc mà không thể ngờ lời hẹn ước 2 năm đoàn tụ đã kéo dài đến 24 năm cùng nghịch cảnh trớ trêu buộc chị phải đối mặt.
Bà kể rằng, ngày lấy chồng mới 21 tuổi, chưa có được hạnh phúc làm mẹ thì vợ chồng đã kẻ Bắc người
![]() |
| Các nhân vật chính trong buổi giao lưu "Những mối tình không thể chia ly". |
Đất nước thống nhất, bà hồi hộp chờ chồng, mãi rồi ông cũng xuất hiện. Hạnh phúc thành nỗi khổ đau, cay đắng khi hay tin ông đã có vợ và 3 người con ngoài Bắc, bản thân bị thương nặng. Thì ra sau khi bà bị bắt, đày đi Côn Đảo, ông nhận tin bà đã bị địch thủ tiêu. Thương nhớ, khổ đau, lại thêm thương tật, mặc dù được đồng đội, tổ chức ra sức giúp đỡ, thậm chí hết sức vun vào cho ông và một nữ nhân viên chuyên chăm sóc thương binh nên vợ nên chồng song dù đã có 3 mặt con, ông vẫn chưa quên người vợ cũ.
Đất nước hết cắt chia, ông trở lại quê nhà. Cuộc tương phùng tràn nước mắt. Bàng hoàng, đau đớn, bà quyết dứt áo, chia tay với cái lý rất đơn giản rằng: Gia đình mới của chồng đã được tổ chức chấp nhận, người vợ mới và 3 đứa con nheo nhóc ngoài Bắc vẫn đang đợi cha chúng trở về. Mặc cho bà xua đuổi, ông khăng khăng không chấp nhận. Vết thương từng khiến ông chấn thương sọ não tái phát, ông quyết không trở về, ngày ngày lang thang hết con phố này đến con phố khác. Cấp trên và đồng đội cũ khuyên giải, lo ông không tỉnh táo, lang thang lỡ có mệnh hệ gì, bà cầm lòng không đặng, đón về, vừa chăm sóc vừa khuyên ông trở lại. Biết gia cảnh người vợ mới khó khăn, có dịp bà lại mua quần áo gửi về cho mấy đứa nhỏ.
Thuyết phục chồng không xong, bà viết thư mời người vợ thứ vào
Sống chung một mái nhà được vài năm thì ông mất. Ít lâu sau người vợ mới cũng nối gót chồng về dưới suối vàng. Phút lâm chung, chị vẫn nhất định không đồng ý cho bà Út Một làm mộ cho mình bên cạnh ông Vĩnh vì vị trí đó phải để dành cho bà lúc về với ông…
Còn lại một mình, bà vẫn tiếp tục nuôi 3 đứa con thơ dại của người chồng cũ nên người. Ngày xuất hiện tại chương trình giao lưu, Phạm Hùng Cường, người con lớn của ông Vĩnh với người vợ hai nay đã ở tuổi trung niên vẫn không nén được niềm xúc động. Tiếng gọi "Chúng con biết ơn và yêu má lắm má ơi!" của anh khiến cả khán phòng lặng đi. Những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt của cả người nghe lẫn người kể…
Cùng với bà Út Một, xuất hiện trong buổi giao lưu của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ còn có nhiều người dì, người cha khác cùng với những câu chuyện vợ chồng, người yêu chờ đợi, luôn một lòng thủy chung son sắt suốt mấy chục năm trời, bất chấp cuộc chiến tranh ác liệt, sự chia cắt đất nước, thậm chí cả cái chết. Đó là bác sĩ Nguyễn Thị Cầm, người vợ thủy chung, tảo tần của Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện; là dì Đặng Thị Tăng, cựu tù Côn Đảo, nguyên Phó ban Tổ chức tỉnh Hậu Giang; là dì Đỗ Duy Liên, vợ liệt sĩ Lê Duy Nhuận; dì Cao Quế Hương, vợ liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương. Chỉ có một cặp đôi may mắn được đoàn tụ, sống hạnh phúc đến hôm nay là nhà tình báo Trịnh Hoài Châu và bác sĩ Đỗ Thị Nga.
Tất nhiên, để có ngày hôm nay, cặp đôi ấy cũng trải qua không ít thử thách của chiến tranh, thấm thía nỗi đau chia cắt, nguy cơ chia ly bởi hy sinh. Nhưng, dù kết quả có khác nhau thì tất cả đều chung một điểm: Các câu chuyện cuộc đời của họ đều ăm ắp yêu thương, được dẫn dắt bởi lý tưởng cao đẹp. Tất cả đều có chung một tấm lòng thủy chung, son sắt, bất chấp cả những bức tường xám lạnh của nhà giam, đòn roi, thủ đoạn của kẻ thù hay sự im lặng đáng sợ khi những người yêu nhau phải đảm trách những công tác đặc biệt.
Những mối tình cảm động, thủy chung ấy là báu vật nhân văn sống đối với tuổi trẻ, như viên ngọc sáng mãi giữa cuộc đời để lớp lớp cháu con soi vào, nhìn lại chính mình, sống bao dung, tin tưởng, biết nâng niu gia đình và sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, xã hội
