Nhớ các bạn Nga
Có được kết quả đó là nhờ sự phấn đấu nỗ lực không mệt mỏi của tập thể từ lãnh đạo, chỉ đạo tới những người trực tiếp thực hiện và sự quan tâm chỉ đạo nhạy bén, sát sao của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, như đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng chí Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và rất nhiều đồng chí khác nữa.
Trong thành tích lớn lao này, không thể không kể đến sự đóng góp của các chuyên gia y tế Liên Xô trước đây và Cộng hòa Liên bang Nga ngày nay thuộc Viện Nghiên cứu khoa học Lăng Lênin.
Từ năm 1969 tới nay, tổng số chuyên gia y tế Liên Xô và nước Nga sau này đã sang Việt Nam giúp ta có 82 người, trong đó có 13 viện sĩ, 7 giáo sư, 11 tiến sĩ khoa học, 20 tiến sĩ, số còn lại là bác sĩ chuyên ngành.
Người sang nhiều lần nhất là 24 lần, đó là đồng chí Yuri Alekseyevich Romakov , Phó Giám đốc, lần đầu sang Việt Nam vào năm 1968, được dự một cuộc mít tinh có Bác Hồ để nhận diện được thần sắc khi Bác còn sống.
Có rất nhiều viện sĩ tiêu biểu đã sang tham gia Hội đồng khoa học liên quốc gia để đánh giá trạng thái thi hài và tư vấn khoa học.
Ngay từ 28/8/1969 đã có 2 viện sĩ sang trực tiếp làm nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu: Viện sĩ Thông tấn Sergei Debov, Giám đốc Viện Lăng Lênin và Viện sĩ Thông tấn Mikhail Lopukhin, Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Moskva. Năm 1970 có ba Viện sĩ N.A.Krayevski, S.R.Madrashov, V.V.Kuprianov và Viện sĩ Thông tấn S.S.Debov. Năm 1975 là các Viện sĩ S.E.Severin, V.V.Kuprianov, Viện sĩ Thông tấn S.S.Debôov, Giáo sư Romantsev, Giáo sư M.R.Sapin. Năm 1989 là Viện sĩ M.R.Sapin, S.S.Debov, I.P.Asmarin, M.K.Permiakov, Giáo sư Yuri.I.Denhisov Nhikpnski.
Sau năm 1991, nhân dịp những năm chẵn tổng kết nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, các bạn Nga luôn cử các nhà khoa học đầu ngành sang trực tiếp giúp ta đánh giá trạng thái thi hài Bác và tư vấn khoa học như năm 1999 là Viện sĩ Pocrovski, Chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên bang Nga, năm 2004 là Viện sĩ V.N.Yarygin, Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Moskva.
Trước tiên phải nói tới Viện sĩ Mikhaip Lopukhin, sinh năm 1924, đã sang Việt
Ông đã trực tiếp chỉnh hình thi hài Bác tại Khu căn cứ K9. Nhờ trực tiếp nghiên cứu và nắm được các đường nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác, nên ông và tổ chỉnh hình đạt được kết quả là "Những đường nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác vẫn được giữ gìn nguyên vẹn". Chắc ít ai hiểu được những đóng góp về trí tuệ, cũng như đôi bàn tay vàng của nhà phẫu thuật tạo hình nổi tiếng Lopukhin trong nhiệm vụ trọng đại này.
Một điều rất quan trọng mà tôi học được ở ông là đức tính thận trọng và tư duy khoa học, mọi vấn đề liên quan đến giữ gìn thi hài đều giải thích bằng cơ sở khoa học. Tôi nhớ năm 1999 trong lần sang Hà Nội tham gia Hội đồng khoa học liên quốc gia đánh giá trạng thái thi hài Bác, ông dành một buổi để giải thích tại sao trong phòng giữ gìn thi hài Bác lại phải duy trì thường xuyên nhiệt độ là 16 độ C và độ ẩm không khí là 70%.
Nhờ thông tin quan trọng này, ta có cơ sở lý luận vững chắc để giữ gìn thi hài Bác thật tốt, đồng thời tạo sự thống nhất về nhận thức và đoàn kết giữa hai ngành khoa học y tế và kỹ thuật trong Bộ Tư lệnh. Một chi tiết hiếm thấy ở người nước ngoài đối với Việt
Người thứ hai tôi muốn nhắc tới là Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vaslav Kazentsep. Ông sinh năm 1942, là Chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu về dung dịch ướp, đã sang Việt Nam 14 lần, lần đầu tiên vào năm 1971, đã chia sẻ khó khăn, gian khổ với Việt Nam ngay ở các nơi sơ tán trong thời gian chống Mỹ, cứu nước để trực tiếp giữ gìn thi hài Bác.
Sau năm 1995, ông sang Việt
Từ năm 1996 tới nay, ông đã giúp Việt Nam chủ trì thực hiện 8 đề tài hợp tác nghiên cứu về dung dịch ướp ở tại Moskva và Hà Nội, tạo tiền đề cả về cơ sở vật chất và lý luận khoa học để pha chế dung dịch. Ông cũng giúp đào tạo nhiều cán bộ y tế chuyên sâu về sinh hóa và dung dịch. Tại Viện 69 ở Hà Nội, ông đã trực tiếp trình bày 8 chuyên đề về hóa sinh và một số chuyên đề về phân tích và pha chế dung dịch ướp bảo quản thi thể lâu năm phục vụ thăm viếng. Đặc biệt ông góp tiếng nói quan trọng để tư vấn cho Ban Giám đốc của Viện Lăng Lênin giúp Việt
![]() |
|
Đoàn người xếp hàng chờ viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh: Vũ Điệp). |
Và một người quan trọng nữa mà tôi không thể không nhắc đến đó là GS. TSKH Boris Khumotov. Tuy ông sang Việt
Cuối năm 1992, trong đợt công tác tại Moskva, tôi đã được ông Khumotov tiếp riêng và tặng cho tập tài liệu quý "Những hạn chế của phương pháp ướp bảo quản thi hài bằng dung dịch". Tài liệu đó đã giúp chúng ta có cách nhìn khách quan, toàn diện hơn về phương pháp ướp bảo quản thi hài của Viện Lăng Lênin, từ đó có nhận thức đúng đắn hơn về cách phòng tránh những biến đổi của thi thể có thể xảy ra.
Đồng thời ông cũng giới thiệu cho chúng tôi phương pháp ướp bảo quản thi thể khô, tức là ướp bảo quản thi thể không sử dụng dung dịch như Viện Lăng Lênin đang làm. Tôi cho rằng đây là thông tin đáng trân trọng bởi vì từ trước chúng ta luôn được nghe giới thiệu những thành tựu, những ưu điểm về phương pháp ướp của Viện Lăng Lênin mà không có ai giới thiệu những hạn chế của nó.
Người thứ tư là Phó Tiến sĩ Valeri Vasilievski, ông sinh năm 1944, nguyên Chủ nhiệm Khoa Thực nghiệm, đã sang Việt Nam 14 lần, cũng đã từng chia sẻ khó khăn, gian khổ với chúng ta ở những nơi sơ tán. Ông đã vĩnh biệt chúng ta từ năm 2008 sau khi bị căn bệnh cấp tính rồi đột ngột ra đi. Những công trình khoa học ông để lại cho chúng ta rất có giá trị.
Ông là chuyên gia hàng đầu về chiếu sáng và nghiên cứu màu sắc da thi hài. Ông cùng với ông Zerevsov và các chuyên gia của Việt
Người thứ năm tôi muốn giới thiệu không phải là một người mà là hai cha con ông Zinkin. Ông Anatoli Zinkin (đó là Zinkin bố) sinh năm 1938, đã sang Việt Nam 10 lần, cũng như ông Kazenátsev sang Việt Nam lần đầu vào năm 1971 và cùng làm việc với chúng ta ở những nơi sơ tán trong những năm chiến tranh.
Ông là bác sĩ chuyên ngành giải phẫu, tuy không có học hàm, học vị cao, nhưng trong công việc, các bạn Nga cũng như các chuyên gia Việt Nam lúc nào cũng kính trọng ông và luôn gọi ông với cái tên trìu mến và thán phục là người có đôi bàn tay vàng vì những động tác ông làm thuốc trên thi hài vừa triệt để tuân thủ các nguyên tắc của y tế vừa nhẹ nhàng khéo léo như bàn tay của nghệ sĩ piano.
Trong những năm còn bao cấp, ông luôn thông cảm và chia sẻ khó khăn với Việt
Nếu kể thành tích của từng chuyên gia y tế của Liên bang Nga chắc là không thể hết được. Nhưng có một điều tôi muốn nói, đó là trong mấy chục năm làm việc với bạn, tôi thấy các bạn đều tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất và rất tận tình giúp đỡ đồng nghiệp Việt
Tới năm 1994, cơ chế hợp tác đã thay đổi, tại Moskva khi bàn về việc hợp tác trực tiếp giữa Ban quản lý Lăng và Viện Lăng Lênin có đề cập tới lương chuyên gia sang công tác tại Hà Nội. Ta đề nghị bạn chủ động nêu mức lương cho chuyên gia. Không khó khăn gì trong việc thỏa thuận này, vì về phía ta không quá nặng nề về mức lương, còn phía bạn chắc vẫn coi trọng tình nghĩa giúp ta là chính.
Trong buổi làm việc với đồng chí Hồ Huấn Nghiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, lúc đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại LB Nga, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Quản lý Lăng nêu mức lương bạn yêu cầu, đồng chí Đại sứ đã nói: "Không ngờ trong lúc bạn khó khăn như thế mà lại lấy mức lương hữu nghị như vậy".
Tôi nhớ tới những ngày làm thuốc lớn, tu bổ Lăng Bác Hồ từ 1975 tới 1990 ở Hà Nội, luôn luôn nhộn nhịp hàng chục chuyên gia của Liên Xô. Cũng như tất cả các trang thiết bị, máy móc hiện đại, tất cả mọi hóa chất, dung dịch và các dụng cụ y tế khác đều do các bạn mang sang giúp ta. Chúng ta thử hình dung khi ấy đất nước Việt
Hiện nay công cuộc đổi mới của chúng ta đã thu được những thành tựu đáng kể, sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác đã đi được 40 năm. Cá nhân tôi càng biết ơn và nhớ tới tất cả các nhà khoa học Nga đã sang trực tiếp giúp đỡ chúng ta mà không ngại mọi khó khăn gian khổ khi chúng ta đang còn chiến tranh và cả trong thời bao cấp còn đầy gian khó. Trong số ấy nhiều người đã sang thế giới bên kia, nhiều người đã cao tuổi, sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhiều người đang sát cánh cùng chúng ta. Tôi nghĩ rằng công lao của các bạn không thể đong đếm bằng tiền hay bằng vàng, mà đó là sự giúp đỡ vô giá tồn tại mãi với thời gian.
Năm 2009
