Ông già mù nửa đời leo cây mướn
75 tuổi, cũng dễ có đến 50 năm ông Lê Văn Hòa, tức Ba mù, sống bằng nghề leo cây. Nghề lạ, bởi người thường sống bằng nghề leo cây đã hiếm, còn ông lại mù lòa, và có lẽ ông là người mù duy nhất sống bằng cái nghề độc nhất miệt miền Tây.
Ông Ba Hòa người gốc Rạch Tranh, Bình Thủy, Cần Thơ. Cuộc đời ông chẳng có gì đáng kể, đáng để ông nhớ, ông nói vậy, nó như ngàn vạn những cuộc đời của ngàn vạn con người khác. Hỏi đến cái nghề của ông, ông lão chỉ móm mém cười.
Tôi biết ông, nhờ có lần ghé một quán ăn bên đường ở quận Bình Thủy, ông dò dẫm bước vào, tuyềnh toàng, ai cũng nghĩ ông là người ăn xin, có người bước ra dúi vào ông vài đồng lẻ, ông cười khổ rồi cố giải thích với mọi người rằng mình không phải là kẻ ăn xin, ai thương ông thì mướn ông về mé nhánh cây, hái trái hay bứng dừa, chớ ông không bao giờ đi ngửa tay xin tiền người ta.
Thuở nhỏ, cậu bé Ba Hòa học giỏi nhất trường làng Rạch Tranh. Nhà nghèo, cậu thường phải theo chúng bạn đi giăng câu, giăng lưới để kiếm thêm con tôm, con cá phụ cái ăn cho gia đình.
Một ngày nọ, Ba Hòa bắt con trùn hổ (một loài giun đất) tính đem làm mồi câu cá, bất cẩn, nọc độc từ con trùn hổ bắn trúng vào hai mắt, Ba Hòa không để ý, thấy ngứa mắt cứ lấy hai tay mà dụi. Vài ngày sau, đôi mắt Ba Hòa cứ sưng tấy lên, làm mủ rồi mờ dần.
Ở làng hầu hết là thầy lang, họ xăm soi đôi mắt cậu bé rồi “phán” một câu: khó giữ được đôi mắt, đi Sài Gòn may ra... Khi ấy, nhà nghèo rớt, cha mẹ Ba Hòa quần quật quanh năm không đủ cho 8 miệng ăn, lấy đâu ra tiền để xuống Sài Gòn. Ba Hòa nghe mà thấy rầu lắm. Những ngày đầu tiên sống trong cảnh mù lòa, cậu bé cứ nhốt mình trong nhà, nghe chúng bạn nô đùa ngoài ngõ mà ứa nước mắt.
![]() |
| Vợ chồng ông Ba Hoà. |
Trời không triệt đường sống của ai, lấy của Ba Hòa đôi mắt, trời lại phú cho Ba Hòa những giác quan khác rất nhạy cảm. Thấy người mẹ già cứ thút thít khóc mỗi bận chăm sóc cho con, nhà thì nghèo, Ba Hòa biết cha mẹ không thể cứ ở nhà lo lắng, đút từng thìa cơm cho Hòa mãi được, Ba Hòa tự chăm sóc cho mình. Khi đã quen với cuộc sống không ánh sáng, Ba Hòa bắt đầu mày mò công việc đồng áng.
Đối với người mù, bắt đầu một công việc gì cũng khó, làm gì cũng lâu hơn người, biết thế, Ba Hòa làm việc gì cũng rất cẩn thận. Vốn là người hiếu động, cảnh “mù lòa” thật sự đối với Ba Hòa chỉ tồn tại vài bữa, cậu nhanh chóng hiểu ra rằng con người ta phải sống, con sâu cái kiến cũng ham sống nữa là. Thế là Ba Hòa sử dụng đôi tay làm đôi mắt, dò dẫm từng bước chân để làm lại cuộc đời.
Bây giờ, đại gia đình ba thế hệ của ông Ba Hòa đang trú ngụ trong một ngôi nhà lá, đồ đạc trong nhà có đốt đuốc soi cả ngày cũng chẳng thấy thứ gì đáng giá. Ông từng mơ ước có được chiếc đài để nghe cải lương mà khi có tiền cũng đâu dám mua. Hơn 50 năm hết lo vợ, con, bây giờ lo cho cháu ngoại, ông đâu có sắm được gì cho riêng mình. Ngồi nghe ông kể, tôi cũng không thể tưởng tượng hết được rằng, một người đàn ông mù như ông đã trải qua hai đời vợ và đã nuôi lớn 8 người con như thế nào.
Hơn 20 tuổi, Ba Hòa đã có thể làm mọi công việc gần như người bình thường. Hết việc nhà, Ba Hòa lại làm thuê làm mướn để kiếm tiền cưới vợ. Suy nghĩ của ông khi ấy, lạc quan lắm, ông có thể mù lòa đôi mắt, nhưng không mù lòa trí tuệ.
Những mảnh đời khó khăn
Rồi ông cũng yêu một cô gái cùng xóm, trong tình yêu, ông không hề mặc cảm, cái sự kiện ông xin đi hỏi vợ làm cha mẹ ông ngỡ ngàng. Họ không tin thằng Ba mù lòa có ngày cũng tính chuyện vợ con. Thấy con có thể tự lo cho cuộc sống của mình, hai ông bà hồ hởi chuẩn bị đồ lễ để đi hỏi vợ cho con nhưng trong bụng cứ lo nhà gái không ưng.
Ai dè, khi đến hỏi, nhà gái gật đầu cái rụp, ở cùng xóm, gia đình nhà gái biết tính Ba Hòa từ lâu, cũng nghe con gái họ kể về Ba Hòa, họ yên tâm khi giao con mình cho Ba Hòa.
Rồi một đám cưới nhỏ đã gây xôn xao ở làng Rạch Tranh, chàng trai khiếm thị cưới được một trong những cô gái đẹp miệt Bình Thủy. Ông bà sinh được một người con gái, tuy nhiên những năm tháng cả nước khó khăn huống chi vợ chồng ông, một người mù.
Ông làm quần quật ngày đêm cũng không đủ nuôi vợ con. Vợ ông không chịu nổi cuộc sống khó khăn nên thay đổi tính nết, đã bỏ ông, để lại người chồng mù lòa và đứa con còn chưa tròn tiếng gọi mẹ.
Ông nhờ người em gái chưa lập gia đình chăm sóc con, và ông lại tiếp tục với cuộc sống vô vàn khó khăn. Trước kia một mình ông đã khó khăn rồi, nay lại thêm đứa con gái bé bỏng nữa, nhưng tất cả đều vượt qua mỗi khi trở về nhà, nghe tiếng con trẻ gọi ba, khóc, la, cười nói, mọi mỏi mệt trong ông tiêu tan.
Cuộc sống cứ trôi đi, hai cha con người mù cứ quyện vào nhau mà sống.
Những năm 1950, cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta ngày một ác liệt, trai tráng trong xóm của ông lần lượt theo cách mạng rồi nhiều người ra đi để lại vợ và con nhỏ. Ba Hòa cũng muốn theo cách mạng, nhưng ông lại tủi cảnh mình mù lòa, cả đời ông chỉ ân hận một điều như thế!
Bà Nguyễn Thị Tám là vợ của một liệt sĩ, ông hy sinh để lại ở quê nhà cho bà ba đứa con thơ dại. Là vợ liệt sĩ nên bà bị chính quyền sở tại o ép, cuộc sống vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Thấy sống ở quê chồng không nổi, bà Tám quyết định dắt díu ba đứa con về miệt Bình Thủy sinh sống, nhưng một người mẹ trẻ, thêm ba đứa con nhỏ thì đi đâu cũng khốn khó cả.
Ông Ba Hòa và bà Tám vốn là người cùng xóm, Bà Tám nhỏ hơn ông Hòa 6 tuổi, trong ký ức của ông Hòa, bà Tám mãi mãi là một cô gái nhỏ nhắn và có làn da trắng ngần, ấy là ông lưu giữ hình ảnh bà Tám khi ông còn sáng mắt.
Mẹ con bà Tám trở về, hàng xóm qua lại, Ba Hòa biết chuyện, ông thấy thương gia đình bà Tám côi cút, có những ngày, ông gạn lại ít gạo kêu con gái đem qua nhà cho mẹ con bà Tám. Lâu dần, tình cảm của hai gia đình ngày càng khăng khít. Một ngày, gặp nhau giữa lối đi nhỏ, ông nắm chặt tay bà Tám rồi thổ lộ: “Hay là Tám và mấy đứa nhỏ về ở với cha con tui”.
Bà Tám suy nghĩ dữ lắm, ông Ba là người mù, bà thì có tới ba đứa con thơ dại, ăn chưa no, lo chưa tới, đành rằng rổ rá cạp lại, nhưng lấy nhau mọi gánh nặng lại thêm chồng chất lên đôi vai của ông. Nghe bà tâm sự, ông nắm chặt bàn tay gầy guộc của bà, rồi bảo: “Đôi bàn tay này đủ lo cho mấy đứa mà, con của anh cần mẹ, con của Tám cũng cần có một người cha, anh cần Tám thế là đủ rồi, cực khổ gì thì cơm cháo cũng có nhau”.
Bà Tám cười mà nước mắt thấm đẫm chiếc khăn rằn. Thế rồi một đám cưới nho nhỏ được tổ chức cũng chỉ là để cho làng xóm láng giềng biết chuyện khỏi gièm pha. --PageBreak--
Nghề leo cây mướn
Trong ký ức của bà Tám nhớ mãi hình ảnh, một ngày mưa gió, ông bà đi làm ruộng mướn ở xóm trên, khi trở về, tiếng máy bay địch gầm rú trên đầu, bà dắt ông chạy, ông bước thấp, bước cao, tiếng đạn rít sát bên tai. Hai ông bà ngã dúi dụi. Lúc ấy, những tưởng sắp chết đến nơi, bà bất lực trông lên bầu trời nguyền rủa, còn ông, ông bảo với bà, hai chúng ta không ai được chết cả, ráng sống để mà lo cho 4 đứa con.
Mà nào phải chỉ có 4 đứa con riêng của hai người, những năm tiếp theo, thêm 4 đứa con chung của ông bà lần lượt ra đời, ngàn vạn mối lo, những miếng ăn, manh áo. Dù muốn cho mấy người con đến trường học cho được cái chữ nhưng tất thảy những đứa con ông đều thất học, nếu có thì cũng chỉ bập bẹ học lóm được ba chữ từ ông thầy đồ ở trường làng.
Ông không từ nan bất cứ việc gì để kiếm được gạo, nhưng người làng bảo, cả đời ông, dù cố, cũng chỉ gói gọn ở chữ nghèo thôi...
Ông đến với nghề leo cây mướn cũng bởi nghèo và khuyết tật. Ông cũng có thể làm việc đồng áng như mọi người, nhưng chậm, những người thuê ông làm dù thương mấy cũng chỉ trả hơn nửa tiền công. Một hôm, ông trèo lên cây dừa vườn nhà hái trái cho vợ đem bán, người trong xóm thấy ông trèo lên, trèo xuống thoăn thoắt mà há hốc miệng thán phục, thế là mọi người không mướn ông làm ruộng nữa mà mướn ông về mé nhánh cây, hái trái.
Sau đó, ở miệt Bình Thủy - Long Tuyền, nhà vườn nào cần tỉa nhánh cây, cưa cây làm cột, xẻ ván đều tìm đến ông Ba mù. Và có những cây dừa già cao chót vót gần 20m, thợ nào cũng chào thua vì leo lên sợ yếu dễ ngã, còn ông thì chẳng từ cây nào cả.
Điều kỳ lạ là trong gần 50 năm sống với nghề leo cây mướn, duy nhất một lần ông Ba bị người bạn vô tình kéo dây làm ông rớt xuống đất từ độ cao gần 11m, nhưng ông chỉ bị ngất một chốc rồi tỉnh lại. Không chỉ leo cây, các công việc như bửa củi, dọn dẹp vườn đều được ông làm rất rành rẽ. Mỗi khi ông có công việc, bà lại dắt ông đến chỗ làm rồi phụ ông ở dưới kéo nhánh cây hay lượm trái.
50 năm với cái nghề, đôi bàn tay to bè của ông đã đầy nốt sần sùi, chai cứng, đến nỗi, những vết chỉ tay của ông đã không còn tồn tại. 50 năm, người miệt Bình Thủy đã quá quen hình ảnh hai vợ chồng bước thấp bước cao dắt díu nhau để mưu sinh.
Trải qua thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất, những đứa con ông lần lượt lớn lên, ông bà lại lo dựng vợ gả chồng cho chúng. Cha nghèo, con cũng nghèo. Không có học, ai cũng tắt mặt tối mày với nghề làm thuê làm mướn, cũng không người con nào dư dả để lo cho ông bà.
Mới rồi, con Út của ông ly dị chồng rồi trở về sống với ông, đem theo thằng cháu ngoại. Những tưởng rằng gả hết con cái đi rồi, lo cho mỗi đứa một gia đình, tuổi “thất thập” ông bà có thể yên tâm sống nốt những tháng ngày còn lại. Rồi con cái ông, cứ dắt díu nhau về dựng lều tranh ở xung quanh nhà ông. Đứa nào cũng nghèo cả.
75 tuổi, những “khách hàng” của ông ngày một vơi dần, dù rất muốn giúp ông có “công ăn việc làm” nhưng họ lại sợ trông thấy cảnh một ông lão leo cây mướn cho họ, xong việc thì không sao, không may ông có mệnh hệ nào thì họ cũng không tránh khỏi ân hận. Lâu lâu, ông bà mới có người mướn mé những nhánh cây thấp lè tè được hai, ba chục ngàn để lo vài bữa cháo.
Ngày xưa, thời ông còn sức khỏe, không xoay được nghề này, ông lại vật lộn với nghề kia cũng lo cho vợ con sống được qua bữa, nhưng bây giờ, đôi tay của ông đã già yếu, đâu còn làm được việc nặng nhọc, bà Tám thì cũng già yếu lắm, đau ốm suốt. Biết vợ bệnh mà không có tiền lo thuốc thang, ông chỉ ứa nước mắt mà bất lực. Vài tháng nay, ông bà thường xuyên ở trong tình trạng thất nghiệp bữa đói, bữa no...
Không ít người khuyên ông đi... ăn xin, biết đâu đỡ cơ khổ hơn. Ông trả lời thẳng: “Tôi chỉ bị mù mắt nhưng tay chân còn nguyên vẹn, còn lao động được mà đi ăn xin thì nhục lắm!”. Ông chỉ dám mơ ước có được cái chuồng và vài con heo, ông bà đi hái rau nuôi heo lớn và rồi bán nó lấy tiền đắp đổi qua ngày, ấy là mơ ước lớn nhất của ông lúc này, điều này đơn giản với rất nhiều người nhưng là một điều “không tưởng” đối với ông...
